 |
| Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (Ảnh: HÀ LINH) |
Điểm nghẽn từ đội ngũ và cơ chế
Trong kết luận tại cuộc họp về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền khoa học cơ bản mạnh, có khả năng tạo ra tri thức mới, làm nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ quốc gia. Để thực hiện mục tiêu đó, bên cạnh cơ chế và nguồn lực đầu tư, việc xây dựng đội ngũ nhà khoa học đủ năng lực theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn có ý nghĩa quyết định. Tuy nhiên, đây cũng đang là điểm nghẽn của nhiều tổ chức khoa học hiện nay.
Tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, do chính sách tinh giản thực hiện nhiều năm qua khiến các đơn vị nghiên cứu gặp khó khăn trong việc bổ sung lực lượng trẻ, nhất là cho các lĩnh vực khoa học mũi nhọn cần thu hút nhân tài.
Chia sẻ về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, nghiên cứu cơ bản đòi hỏi quá trình đào tạo lâu dài, tích lũy tri thức qua nhiều năm và cần môi trường nghiên cứu hiện đại để các nhà khoa học trưởng thành. Thực tế đội ngũ nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ở nhiều lĩnh vực khoa học nền tảng vẫn còn mỏng, nhất là các ngành mới, có tính liên ngành cao hoặc liên quan các công nghệ lõi. Nhiều hướng nghiên cứu chuyên sâu, số lượng chuyên gia thật sự làm chủ công nghệ còn hạn chế.
Nhân lực nghiên cứu cơ bản cũng đang bị mai một tại Viện Di truyền nông nghiệp - một trong những đơn vị nghiên cứu cơ bản hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp (thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam). Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân Hội, nguyên Viện trưởng Viện Di truyền nông nghiệp, đáng lo ngại là sự hao hụt lại rơi vào những người có năng lực nghiên cứu, được đào tạo bài bản và có khả năng dẫn dắt chuyên môn.
|
|
| Trong khi đó, lớp trẻ có năng lực và tâm huyết lại ít mặn mà vào viện nghiên cứu, họ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp khác với điều kiện thu nhập và cơ hội phát triển tốt hơn. |
Trong khi đó, lớp trẻ có năng lực và tâm huyết lại ít mặn mà vào viện nghiên cứu, họ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp khác với điều kiện thu nhập và cơ hội phát triển tốt hơn. Một trong những nguyên nhân là do cơ chế tự chủ tài chính khiến ngân sách cấp lương và hoạt động nghiên cứu khoa học bị thu hẹp. Trong bối cảnh đó, các nhà khoa học có xu thế triển khai nghiên cứu đề tài từ các chương trình, các quỹ đầu tư, phối hợp nghiên cứu với các tổ chức nước ngoài, với doanh nghiệp, nhưng như thế sẽ không giữ được chuyên môn, chuyên sâu của mình, sở trường nghiên cứu trở thành sở đoản.
Từ góc độ quản lý hệ thống viện nghiên cứu nông nghiệp, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho biết, năm 2020, toàn hệ thống 19 viện nghiên cứu trực thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, có khoảng 2.900 cán bộ thì hiện nay chỉ còn hơn 2.000 cán bộ. Việc thiếu hụt quỹ tiền lương (xấp xỉ 40%) đã ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và sự gắn bó của đội ngũ cán bộ nghiên cứu. Yêu cầu tự chủ và thực hiện nhiệm vụ khoa học theo đặt hàng ngắn hạn đang đặt ra sức ép cho cán bộ nghiên cứu phải nhanh chóng tạo ra sản phẩm ứng dụng, không có cơ hội đi sâu nghiên cứu kỹ thuật, công nghệ lõi, đội ngũ cán bộ đầu đàn trong từng lĩnh vực cũng đang bị thiếu hụt, không còn cán bộ nghiên cứu chuyên sâu. Những người rời khỏi hệ thống thường là cán bộ có năng lực, được đào tạo ở nước ngoài, nhưng khó thích ứng cơ chế hiện nay và họ đã chuyển sang doanh nghiệp.
Theo ông Sơn, cán bộ được đào tạo làm việc ở đâu cũng là đóng góp cho đất nước, nhưng nếu các viện nghiên cứu công lập không giữ được lực lượng cán bộ nghiên cứu được đào tạo cơ bản thì năng lực thực hiện những nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu khó và nghiên cứu phục vụ lợi ích công sẽ bị suy giảm.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Huy Hàm, Chủ nhiệm Chương trình Công nghệ sinh học quốc gia nhấn mạnh: Trước thực trạng các cán bộ trẻ được đào tạo bài bản không mặn mà về viện nghiên cứu công tác, số cán bộ đã trưởng thành, có thể tiếp cận với thực tiễn và đề xuất được ý tưởng khoa học vào giải quyết vấn đề thực tiễn rời viện nghiên cứu, thì chúng ta cần nhiều năm để xây dựng lại đội ngũ.
Gỡ rào cản để phát triển đội ngũ nghiên cứu
Từ thực tiễn nêu trên, nhiều ý kiến cho rằng cần có chính sách đồng bộ và sự quyết liệt mới tạo sự chuyển biến thực chất trong thu hút nhân lực để đáp ứng yêu cầu mới. Chính sách tiền lương cần bảo đảm đời sống; cơ chế cấp kinh phí và giải ngân phải thuận lợi để nhà khoa học tập trung cho nghiên cứu; trao quyền tự chủ lớn hơn cho người đứng đầu cơ sở nghiên cứu. Cùng với đó là cơ chế đánh giá minh bạch, dựa trên kết quả đầu ra và trách nhiệm giải trình của các nhóm nghiên cứu, viện nghiên cứu. Cần điều chỉnh cơ chế tự chủ đối với các tổ chức nghiên cứu cơ bản, bởi việc gắn hoạt động của các viện nghiên cứu với yêu cầu tạo nguồn thu đang gây khó khăn cho việc duy trì hoạt động và đầu tư phát triển tương xứng với vai trò của nghiên cứu cơ bản.
Bên cạnh đó, môi trường nghiên cứu cần đủ sức hấp dẫn để người trẻ yên tâm theo đuổi nghiên cứu lâu dài. Tiến sĩ Nguyễn Trọng Khanh, nguyên Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm cho rằng, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt nghiên cứu khoa học cơ bản vào vị trí nền tảng của mô hình phát triển mới. Tuy nhiên, để xây dựng, phát triển chiến lược đó thành hiện thực, trước hết phải giải được bài toán con người, chấm dứt sự lãng phí nguồn lực khi một số nhà khoa học đi đào tạo nước ngoài không trở về, hoặc trở về nhưng thiết bị máy móc và kinh phí nghiên cứu đều thiếu để duy trì hướng nghiên cứu.
Một giải pháp khác là cần có chính sách hỗ trợ dài hạn đối với các tài năng trẻ, các nghiên cứu sinh, tiến sĩ trẻ và các nhóm nghiên cứu tiềm năng trong những lĩnh vực khoa học nền tảng.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, mô hình phát triển nhân lực khoa học phổ biến trên thế giới là trong một nhóm nghiên cứu thường được tổ chức theo mô hình kim tự tháp, với các giáo sư, nhà khoa học giàu kinh nghiệm ở tầng trên đảm nhiệm vai trò định hướng, dẫn dắt; bên dưới là các tiến sĩ, nghiên cứu sinh và cán bộ nghiên cứu trẻ trực tiếp triển khai công việc. Chính lực lượng trẻ là những người thực hiện phần lớn các thí nghiệm, xử lý dữ liệu và triển khai các ý tưởng khoa học trong thực tế. Đặc biệt, trong các lĩnh vực thực nghiệm, các nhà khoa học trẻ là lực lượng trực tiếp vận hành thiết bị, thực hiện nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm để từng bước trưởng thành. Vì vậy, sự phát triển bền vững của khoa học phụ thuộc rất lớn cơ chế thu hút, duy trì và phát triển được đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực.
Cần thu hút các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia chương trình nghiên cứu trọng điểm. Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao đã được đào tạo trong môi trường khoa học tiên tiến, có thể góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và rút ngắn khoảng cách tri thức của các tổ chức khoa học trong nước. Việc thu hút nguồn lực này không chỉ là chế độ đãi ngộ mà cần tạo cơ hội cho họ tham gia giải quyết các bài toán lớn của đất nước, đóng góp thực chất vào quá trình hoạch định chiến lược, xây dựng chương trình nghiên cứu và đào tạo thế hệ kế cận.
https://nhandan.vn/xay-dung-nguon-nhan-luc-cho-nghien-cuu-co-ban-post970605.html