ClockChủ Nhật, 12/04/2026 06:23

Du lịch phải biết kể chuyện

HNN - Làm sao để cạnh tranh điểm đến, thu hút du lịch khi nhiều quốc gia, nhiều địa phương đều có biển, có núi, có những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc? Đó là câu hỏi đã được đặt ra tại Hội thảo “Kết nối, quảng bá văn hóa, di sản, lịch sử và du lịch” vừa được Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực miền Trung - Tây Nguyên (VTV8) tổ chức tại Gia Lai.

Du lịch linh hoạt trước biến động thị trườngĐiều chỉnh, bổ sung, nâng định mức hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồngNâng tầm du lịch Việt Nam thông qua hội chợ quốc tế

Du khách tham quan lăng vua Gia Long. Ảnh: Nguyễn Quân 

Tại hội nghị, TS. Lê Quốc Vinh - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Tập đoàn Truyền thông Lê cho rằng, khi đến bất kỳ một nơi nào, điều du khách hướng đến không chỉ là danh thắng hay ẩm thực… Điều họ mong muốn được hưởng thụ chính là những câu chuyện về điểm đến. “Chỉ khi kể được câu chuyện chạm đến du khách, điểm đến ấy mới được nhớ” - ông Vinh gợi mở.

Dẫn chứng về chiến lược truyền thông tạo đòn bẩy về nghệ thuật du lịch kể chuyện, TS. Vinh đề cử một vài ví dụ, như: Thái Lan với “Amazing Thailand”; Hàn Quốc với K-Pop và Nhật Bản với văn hóa sushi, kể câu chuyện về sự kết hợp tinh tế giữa nghệ thuật ẩm thực và triết lý sống của người Nhật.

Không chỉ là cơm trộn giấm kết hợp với hải sản tươi sống, sushi của người Nhật đã có nguồn gốc từ hơn 2.000 năm, với bí quyết bảo quản cá từ thời cổ đại thành món ăn sang trọng. Và điều quan trọng, câu chuyện sushi đã trở thành trụ cột kinh tế của Nhật Bản. Biểu tượng marketing quốc gia toàn cầu Sushi đã tạo ra chuỗi giá trị hàng tỷ USD cho Nhật Bản thông qua ngành công nghiệp nhà hàng, xuất khẩu thủy sản và du lịch.

Đó cũng là câu chuyện của Campuchia với “Nụ cười của Angkor” (Smile of Angkor) - show diễn dài 70 phút tại Trung tâm Biểu diễn và Nghệ thuật Siem Reap. Một thống kê cho thấy, trung bình cứ 10 du khách đến Campuchia thì có 3 người chọn xem show diễn dù giá vé không hề rẻ: 48 USD (hơn 1 triệu đồng Việt Nam) cho ghế hạng A; 38 USD cho hạng B kèm theo một suất ăn tối buffet… Một nhà hát khoảng gần 1.000 chỗ được xây dựng chỉ để dành cho show diễn với 1.500 buổi được tổ chức trong 6 năm qua. Điều gì khiến chương trình chinh phục cả thế giới?

Để có được “Nụ cười của Angkor”, một khoản kinh phí đầu tư lớn lên đến 5 triệu USD đã được thực hiện. Chương trình được đạo diễn số một Trung Quốc Trương Nghệ Mưu dàn dựng sau 6 tháng nghiên cứu. Sân khấu chương trình được thiết kế đặc biệt với hệ thống âm thanh ba chiều, ánh sáng hiện đại, hệ thống các màn hình LED cực lớn và các sàn trượt, sàn quay, sàn nâng hạ, nước và lửa…

Nhưng sức hút thực sự của show diễn chính là câu chuyện về lịch sử hùng mạnh của đế chế Khmer được tái hiện cùng một nền văn hóa rực rỡ, phô diễn vẻ đẹp của vũ điệu Apsara; các loại hình âm nhạc truyền thống; các lễ hội dân gian, cung đình; các nghi lễ tôn giáo… “Nụ cười của Angkor” còn mang lên sân khấu cả đời sống lao động và sinh hoạt thường nhật của người dân Campuchia, từ trồng trọt, bắt cá, chăn nuôi… Có cả mưa rơi, có cả lễ hội té nước, có cả cảnh các cô gái gội đầu, có màn bắt cá quẫy trên tay các chàng trai, có cả cảnh đàn vịt chạy lạch bạch… trên sân khấu.

“Nụ cười của Angkor” cũng được quảng bá tràn ngập bằng nhiều ngôn ngữ trên mạng Internet, trên các pano lớn ở sân bay, đường phố. Hiệu quả kinh tế của show diễn cũng được khai thác triệt để. Khán giả tha hồ chụp ảnh với các vũ công, diễn viên nhưng phải trả 1 USD cho mỗi kiểu ảnh dù tự chụp. Trong khi xem, du khách không được quay phim chụp ảnh nhưng khi ra về, nhân viên của rạp dàn hàng ngoài lối ra để mời mua đĩa DVD chương trình với giá 5 USD/đĩa.

Quay lại câu chuyện của Việt Nam, nhạc sĩ Lê Minh Sơn gợi ý, chúng ta hoàn toàn có thể kể câu chuyện của riêng mình. Như Hội An đã có “Ký ức Hội An” với câu chuyện du lịch thành công. Với Quy Nhơn, đó có thể là câu chuyện của đất võ, của người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung; với Tây Nguyên là văn hóa cồng chiêng; với Nam Bộ là văn hóa sông nước…

Và với Huế, câu chuyện nào đang chờ được kể, với lịch sử của một đế đô, của tuồng bản, ca Huế, Nhã nhạc, mộc bản, họa tiết trên Cửu Đỉnh hay hành trình mở cõi, giữ nước của vùng đất đã ngót nghét trên 700 năm…?

Kim Oanh
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Chưa thể yên tâm với môi trường du lịch

Tình trạng ăn xin, bán hàng rong, chèo kéo du khách... vẫn diễn ra ở một số điểm du lịch của Huế. Điều đáng nói là thực trạng này nhiều lần tái diễn dù cơ quan chức năng đã tổ chức ra quân, kiểm tra, xử lý.

Chưa thể yên tâm với môi trường du lịch
Tăng cường bảo đảm an toàn trong hoạt động du lịch

Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Công điện số 4402/CĐ-BVHTTDL gửi Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Du lịch các tỉnh, thành phố về tăng cường bảo đảm an toàn trong hoạt động du lịch.

Tăng cường bảo đảm an toàn trong hoạt động du lịch
Dữ liệu - nền tảng phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh

Dữ liệu không đơn thuần là thông tin, mà còn là tài nguyên chiến lược giúp nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ du lịch hiện đại. Xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất, đồng bộ trở thành yêu cầu cấp thiết để phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Dữ liệu - nền tảng phát triển hệ sinh thái du lịch thông minh
Du lịch nông thôn gắn với văn hóa bản địa

Di sản văn hóa đang thành động lực phát triển du lịch bền vững. Nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Châu Tiến (Nghệ An) và không gian văn hóa Tày tại bản làng Thái Hải (Thái Nguyên) là những minh chứng rõ nét.

Du lịch nông thôn gắn với văn hóa bản địa
Nâng cao chất lượng điểm đến

Ủy ban nhân dân thành phố Huế vừa ban hành Kế hoạch số 341/KH-UBND về nâng cao Chỉ số Phát triển du lịch cấp tỉnh (VTDI) của Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030. Điểm đáng chú ý trong kế hoạch này là thành phố Huế đặt mục tiêu tiếp tục bứt phá, hướng đến trở thành một trong 5 địa phương dẫn đầu cả nước về Chỉ số Phát triển du lịch cấp tỉnh vào năm 2030.

Nâng cao chất lượng điểm đến

TIN MỚI

Return to top