
Chủ Nhật, 02/08/2026 07:55
(GMT+7)
Khơi thông Ngự Hà
HNN - Năm 1904, một trận bão lũ tàn phá dữ dội toàn bộ xứ Huế. Nước sông Hương cao kỷ lục, dâng tràn qua Hoàng thành. Sử cũ ghi lại, khi nước lũ bủa vây khắp nơi, Vua Thành Thái đã tự mình cưỡi voi và huy động lực lượng vệ binh dùng thuyền nhỏ đi khắp các vùng ngập sâu quanh Đại Nội để cứu giúp người dân bị kẹt. Trận lũ năm đó khiến cầu Trường Tiền mới xây xong bị xô đổ 6 nhịp, nhưng các công trình quan trọng trong Đại Nội nhờ hệ thống mộng gỗ dẻo dai và thoát nước Ngự Hà nên vẫn đứng vững sau khi nước rút.
|
| Khơi thông Ngự Hà là để tăng khả năng tiêu, thoát nước, giảm ngập cho khu vực Kinh thành. Ảnh: Nguyễn Quân |
Chọn Huế làm Kinh đô và chọn cuộc đất bờ bắc sông Hương khá thấp trũng ở vùng trung tâm Huế để xây dựng kinh thành, vị vua đầu triều nhà Nguyễn - Gia Long hiểu rõ vấn nạn “trời hành cơn lụt mỗi năm” của vùng Hương Ngự. Vậy nên, ngay từ năm 1805, nhà vua đã khởi lệnh cho khơi đào và nắn dòng một nhánh sông cũ (sông Kim Long cũ) chạy từ sông Đông Ba qua khu vực Võ Khố ra đến phía Đông Kinh thành, nối với hộ thành hào. Đến thời Vua Minh Mạng, lại khơi đào tiếp đến sông Kẻ Vạn và được đặt tên Ngự Hà, có nghĩa là “dòng sông vua”.
Trong một bài văn bia nhan đề “Ngự chế Khánh Ninh kiều bi ký” (văn bia vua viết về cầu Khánh Ninh, một trong 10 cây cầu bắc qua sông Ngự Hà), Vua Minh Mạng đã nói đến hai chức năng của Ngự Hà. Đó là “rất tiện lợi cho mọi người trong đi lại” và nước sông có thể “cung ứng cho việc ăn uống và sử dụng của quân đội và dân chúng”. Cũng trong một bài văn bia khác nhan đề “Ngự chế dẫn thượng”, Vua Minh Mạng lại bàn đến chức năng cấp, thoát nước tự nhiên cho địa bàn Thành nội của sông Ngự Hà. Rằng: “Dòng nước chẳng tiếp nối với đầu nguồn thì ứ đọng đục bẩn, không thể cung ứng cho việc ăn uống và sử dụng của quân đội và dân chúng”.
Huế là vùng đất có lượng mưa cực lớn và thường xuyên đối mặt với bão lũ. Hệ thống sông đào bao quanh cùng dòng Ngự Hà nội thành hoạt động như một hệ thống thoát lũ tự nhiên khổng lồ. Mùa mưa lũ, sông đóng vai trò là một “kênh xả lũ tự động” đưa nước ra sông Kẻ Vạn và sông Đông Ba. Mùa khô hạn, sông lại giữ vai trò cấp nước, chống xâm nhập mặn và điều hòa khí hậu cho không gian kiến trúc gỗ trong thành. Vai trò trị thủy của Ngự Hà không chỉ dừng lại ở việc “thoát nước chống ngập”, mà được xem là một “kiệt tác thủy lợi đô thị” - nơi kỹ thuật trị thủy truyền thống hòa quyện hoàn hảo với nghệ thuật quy hoạch phong thủy và cảnh quan kiến trúc di sản.
Do thiếu sự nạo vét và bảo vệ, một thời gian dài, Ngự Hà bị bồi lấp, nay đang dần được “hồi sinh” bởi các dự án chỉnh trang và tôn tạo. Khơi thông Ngự Hà là để tăng khả năng tiêu, thoát nước, giảm ngập cho khu vực Kinh thành. Giữ cho dòng sông luôn thông chảy không chỉ là gìn giữ một di sản mà còn là cách người Huế chủ động thích ứng với thiên tai và bảo vệ đô thị di sản.
Đan Duy