ClockThứ Tư, 01/04/2026 08:18

Hoàn thiện cơ chế sở hữu trí tuệ cho công nghệ chiến lược

Quá trình phát triển các công nghệ chiến lược, sở hữu trí tuệ đang chuyển từ vai trò bảo hộ sang công cụ khai thác giá trị, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Lưu kỷ niệm với photoboothKý kết thành lập Trung tâm Đào tạo Phẫu thuật Robot Việt - Trung Hoàn thiện thể chế về văn hóa dân tộc

Xử lý đơn đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Cục Sở hữu trí tuệ. (Ảnh: THỦY NGUYÊN) 

Tuy nhiên, hiện nay, khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa vẫn còn lớn, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo hướng linh hoạt, chia sẻ lợi ích và chấp nhận rủi ro.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và các quy định trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ đều cho thấy xu hướng chuyển từ cách tiếp cận quản lý sang khai thác, trong đó quyền sở hữu và quyền khai thác kết quả nghiên cứu được trao nhiều hơn cho tổ chức chủ trì và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp.

Sở hữu trí tuệ không chỉ còn là công cụ bảo hộ, mà dần trở thành “đòn bẩy” để hình thành sản phẩm, doanh nghiệp và thị trường công nghệ. Thời gian qua, hệ sinh thái sở hữu trí tuệ tại Việt Nam đang có những chuyển động tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho thương mại hóa công nghệ.

Theo ông Lê Hoàng Long, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội. Trước đây, hoạt động của Cục Sở hữu trí tuệ chủ yếu tập trung việc xác lập quyền cho các chủ thể quyền.

Tuy nhiên, gần đây, Cục đã mở rộng không gian hoạt động theo hướng toàn diện hơn, trong đó có việc thúc đẩy thương mại hóa và khai thác thương mại tài sản trí tuệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ cũng cho thấy sự gia tăng mạnh về số lượng các sáng chế. Năm 2025, số lượng đơn đăng ký sáng chế của cá nhân, tổ chức Việt Nam đạt 2.288 đơn, tăng 36% so với năm 2024, trong khi số văn bằng bảo hộ được cấp đạt 1.108, tăng tới 134,2%, vượt xa mục tiêu tăng trưởng trung bình 16-18%/năm theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Cục Sở hữu trí tuệ cũng đã khảo sát thử nghiệm trực tiếp đối với chủ sở hữu sáng chế để đánh giá thực trạng khai thác thương mại và kết quả cho thấy khả năng khai thác sáng chế cũng đang được cải thiện, với tỷ lệ sáng chế có tiềm năng thương mại hóa ước đạt khoảng 8,56%, cơ bản đạt mục tiêu 8-10% Nghị quyết số 57-NQ/TW đề ra.

Theo các chuyên gia, đây là con số đáng chú ý trong bối cảnh hoạt động thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam còn mới, cho thấy dư địa phát triển còn rất lớn nếu có cơ chế phù hợp.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Tiến Dũng, Trưởng ban Ứng dụng và Triển khai công nghệ (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, cơ chế sở hữu trí tuệ đối với các kết quả nghiên cứu công nghệ chiến lược cần được hoàn thiện theo hướng khuyến khích thương mại hóa, đồng sở hữu và khai thác linh hoạt, thay vì tiếp cận thuần túy theo quản lý hành chính.

Cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia từ sớm vào quá trình nghiên cứu, phát triển, cùng nắm giữ, khai thác và chịu trách nhiệm đối với quyền sở hữu trí tuệ hình thành từ các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Hoạt động chuyển giao và thương mại hóa công nghệ chiến lược cần được thiết kế theo hai cách tiếp cận chính sách song song, có phân loại rõ ràng theo mức độ hoàn thiện và mục tiêu phát triển của công nghệ.

Thứ nhất, chuyển giao công nghệ theo mục tiêu thu hồi giá trị trực tiếp, áp dụng đối với các công nghệ đã hoàn thiện, đã được kiểm chứng, có thị trường và khả năng thương mại hóa rõ ràng.

Đối với nhóm công nghệ này, việc chuyển giao cần thực hiện trên cơ sở định giá công nghệ theo cơ chế thị trường, bảo đảm thu hồi kinh phí cho đơn vị chủ trì và Nhà nước thông qua các hình thức chuyển giao có thu tiền, nhượng quyền khai thác hoặc hợp đồng thương mại hóa.

Cách tiếp cận này góp phần nâng cao kỷ luật tài chính, khuyến khích nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường và tăng hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ hai, chuyển giao công nghệ theo mục tiêu lan tỏa và phát triển bền vững, áp dụng đối với các công nghệ mới, công nghệ nền tảng, công nghệ nguồn hoặc công nghệ phục vụ phát triển ngành, vùng và lĩnh vực ưu tiên.

Đối với nhóm công nghệ này, cho phép áp dụng các hình thức chuyển giao linh hoạt như: Chuyển giao với giá ưu đãi, góp vốn bằng công nghệ, chuyển giao có điều kiện hoặc chuyển giao gắn với cam kết đầu tư, sản xuất, tạo việc làm và nâng cao năng lực công nghệ.

Trong trường hợp này, lợi ích của Nhà nước không thu hồi trực tiếp ngay bằng tiền, mà được thu hồi gián tiếp và bền vững thông qua tăng trưởng sản xuất-kinh doanh, mở rộng thị trường, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.

Với vai trò là nơi tạo ra tri thức và công nghệ, các trường đại học, viện nghiên cứu đang đứng trước yêu cầu ngày càng lớn trong việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.

Đại diện Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần ban hành quy trình cho phép các đại học, viện nghiên cứu thí điểm các mô hình kinh doanh đối với tài sản trí tuệ công. Giải pháp này nhằm tháo gỡ các rào cản hành chính thông thường, tạo không gian pháp lý an toàn để nhà khoa học khơi thông dòng chảy tri thức ra thị trường.

Một rào cản lớn hiện nay là doanh nghiệp sẵn sàng đối ứng bằng máy móc, nhân công, hạ tầng, nhưng các trường đại học không có thẩm quyền và chức năng để xác nhận giá trị quy đổi ra tiền của các khoản này.

Do đó, các bộ, ngành cần sớm ban hành hướng dẫn cụ thể về định giá phần đóng góp này để hợp thức hóa vốn đối ứng trong các nhiệm vụ hợp tác công-tư.

Song song đó, Nhà nước cần tiếp tục giữ vai trò chia sẻ rủi ro trong quá trình thương mại hóa công nghệ chiến lược, thông qua các cơ chế như quỹ đồng đầu tư, bảo lãnh công nghệ, hỗ trợ thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, nhất là ở giai đoạn đầu của chuỗi phát triển công nghệ.

Việc đánh giá kết quả nghiên cứu không chỉ dựa trên số lượng sáng chế hay hợp đồng chuyển giao, mà cần xem xét mức độ làm chủ công nghệ, khả năng lan tỏa, tác động kinh tế-xã hội và đóng góp vào năng lực tự chủ công nghệ quốc gia trong trung và dài hạn.

Nhà nước cần tiên phong đặt hàng và sử dụng các sản phẩm đổi mới sáng tạo để tạo lập thị trường mồi, giúp doanh nghiệp hoàn thiện sản phẩm trước khi mở rộng thị trường.

https://nhandan.vn/hoan-thien-co-che-so-huu-tri-tue-cho-cong-nghe-chien-luoc-post952334.html?gidzl=IPS4UuFboqnBYWrxW_xAIqs61NoSyyD9KTHHBytnnqvKXrPzoVUG6523NowPySiT0e8ABpF_GVS0X-N6JW

Theo nhandan.vn
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

BRICS - Cơ chế hợp tác quan trọng

Với chủ đề “Xây dựng khả năng phục hồi, đổi mới, hợp tác và phát triển bền vững”, chương trình nghị sự của Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới (BRICS) lần thứ 18 dự kiến diễn ra tại New Delhi (Ấn Độ) vượt ra ngoài sự phối hợp chính trị truyền thống, hướng tới hợp tác thực tiễn trên nhiều lĩnh vực.

BRICS - Cơ chế hợp tác quan trọng
Làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức công tác

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Công an TP. Huế đang từng bước đưa công nghệ vào thực tiễn, tạo động lực đổi mới phương thức công tác.

Làm chủ công nghệ, đổi mới phương thức công tác
Tăng tốc hoàn thiện khu tái định cư xã A Lưới 2

Dự án Quy hoạch sắp xếp bố trí ổn định dân cư xã Quảng Nhâm (nay là xã A Lưới 2) đang bước vào giai đoạn hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật với tổng tiến độ xây lắp đạt khoảng 70%. Việc hoàn tất 100% công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) đã tạo điều kiện thuận lợi để đưa các hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số về nơi ở mới an toàn, bền vững.

Tăng tốc hoàn thiện khu tái định cư xã A Lưới 2
Giáo dục cần đúng người, y tế cần đúng cơ chế

Tại Kỳ họp chuyên đề lần thứ 3 của HĐND thành phố mới đây, nhiều câu hỏi đã được đặt ra: Vì sao ngành giáo dục còn thiếu hàng trăm giáo viên nhưng vẫn phải tính chuyện cắt giảm biên chế? Vì sao các đơn vị y tế được giao tự chủ nhưng không đủ nguồn thu để trả lương? Và nếu ngân sách vẫn phải bù, thì mô hình “tự chủ” liệu có hiệu quả?

Giáo dục cần đúng người, y tế cần đúng cơ chế
Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI); phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.

Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

TIN MỚI

Return to top