ClockThứ Bảy, 07/03/2026 17:29

Chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh

HNN.VN - Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 5/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.

Khi hộ kinh doanh chuyển đổi sốTăng thu ngân sách ngay từ đầu nămQuy định mới về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanhHướng đến nâng cao mức độ hài lòng của hộ kinh doanh

Nghị định quy định chính sách thuế đối với hộ kinh doanh có doanh thu trên dưới 500 triệu đồng

Nghị định này quy định về chính sách thuế: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác; khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; phạm vi trách nhiệm, cách thức các chủ quản nền tảng thương mại điện tử…

Mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu nộp thuế

Về việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Nghị định quy định như sau:

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng đầu năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh đến hết ngày 30/6 với cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 31/7 và thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong 6 tháng cuối năm chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.

Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 6 tháng cuối năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh chậm nhất là ngày 31/1 của năm dương lịch tiếp theo.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi có doanh thu lũy kế trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quý theo quy định tại Điều 10 Nghị định này kể từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng.

Từ năm tiếp theo, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nếu có doanh thu thực tế phát sinh từ 500 triệu đồng trở xuống thực hiện thông báo doanh thu theo quy định tại Điều 8 Nghị định này; trường hợp có doanh thu thực tế phát sinh trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng

Nghị định quy định việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân được thực hiện như sau:

Về khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp có doanh thu năm từ 50 tỷ đồng trở xuống thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo quý.

Trường hợp có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo tháng.

Về khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh lựa chọn nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế thực hiện khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thực hiện khai tạm nộp thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý trên cùng hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.

Số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp bằng thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế của tháng, quý và khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo năm.

Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân đã tạm nộp ít hơn số thuế đã khai tạm nộp, số thuế tạm nộp ít hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp bổ sung và không phải tính tiền chậm nộp.

Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp nhiều hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì thực hiện thủ tục xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.

 Hướng dẫn bán hàng qua kênh thương mại điện tử cho tiểu thương Đông Ba

Chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với mỗi giao dịch

Đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Nghị định quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác trong nước hoặc nước ngoài có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm thực hiện khấu trừ, khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ đối với mỗi giao dịch cung cấp hàng hóa, dịch vụ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân.

Hộ kinh doanh, cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo quy định tại Điều 8, Điều 9, Điều 10 Nghị định này.

Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chỉ có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số hoặc vừa có hoạt động kinh doanh tại địa điểm kinh doanh cố định vừa có kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số nếu có doanh thu năm tổng hợp trên 03 tỷ đồng hoặc có doanh thu năm trên 500 triệu đồng và lựa chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện tổng hợp doanh thu để khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo năm.

Số thuế thu nhập cá nhân đã được chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khấu trừ, nộp thay được trừ khi xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.

Cá nhân không cư trú có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác không có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán có trách nhiệm tự kê khai, nộp thuế theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025 của Chính phủ quy định quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số của hộ, cá nhân và không phải thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong năm với cơ quan thuế, không phải thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 8, Điều 10 Nghị định này.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/3/2026.

VPCP
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Một chính sách, nhiều kỳ vọng

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược (Nghị định số 179) đang nhận được sự quan tâm lớn từ các cơ sở đào tạo, chuyên gia giáo dục và người học.

Một chính sách, nhiều kỳ vọng
Châu Âu đạt bước ngoặt về chính sách di trú

Ngày 1/6, Hội đồng EU và Nghị viện châu Âu đã đạt thỏa thuận sơ bộ về Quy định hồi hương, bộ luật thiết lập một hệ thống chung trên toàn khối để trục xuất những người cư trú bất hợp pháp tại các nước thành viên. Đây là một trong những bước ngoặt lớn nhất trong chính sách di trú châu Âu nhiều thập kỷ qua.

Châu Âu đạt bước ngoặt về chính sách di trú
Không vì sức ép tiến độ mà hạ thấp yêu cầu về chất lượng chính sách

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu nhấn mạnh lãnh đạo các bộ, cơ quan phải chú trọng, quan tâm sát sao hơn và đặt công tác xây dựng pháp luật đúng vị trí, vai trò. Đặc biệt, không vì sức ép tiến độ mà hạ thấp yêu cầu về chất lượng chính sách, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của hệ thống pháp luật.

Không vì sức ép tiến độ mà hạ thấp yêu cầu về chất lượng chính sách
Nhà giáo được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi 20% - 80%

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 182/2026/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân sự hỗ trợ giáo dục công tác trong các cơ sở giáo dục công lập. Nghị định quy định mức phụ cấp từ 20% đến 80%, tùy theo vị trí việc làm, cấp học, loại hình cơ sở giáo dục và điều kiện công tác của người lao động trong ngành giáo dục.

Nhà giáo được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi 20 - 80

TIN MỚI

Return to top