Ngày ấy nghe hai chữ A Sao - A Lưới khác chi đi "tù đày viễn xứ", ông bồi hồi nhớ lại về những ngày đầu đặt chân lên vùng cao A Lưới. A Lưới là vùng đất sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số Pacô, Pahy, Cờ tu... A Lưới sau những năm tháng bom đạn của chiến tranh vẫn còn đó những nơi hoang sơ. Đâu đó vẫn còn những vùng đất bị nhiễm chất độc màu da cam. "Ngày tau đặt chân xuống Bốt Đỏ, nước mắt tau chan chứa", ông kể. Có lẽ với một thanh niên thành phố vốn quen cuộc sống ồn ã, A Lưới là điều quá sức tưởng tượng. Không điện đóm. Không nước máy. Không gì hết... Người thanh niên ấy chết lặng trước sự thiếu thốn muôn trùng ở vùng đất hoang sơ này. Ngôi trường là những mái nhà tranh lụp xụp tự tay các phụ huynh và học sinh đồng bào dựng nên. Vách nhà là những tấm phên gỗ xộc xệch. "Nói là học sinh chứ có đứa chỉ thua tau 5 tuổi", ông nhớ lại.
Sau những tiết học, thầy trò lại rủ nhau lên núi chặt củi, tỉa bắp, trồng sắn tăng gia. Mùa đông lạnh lẽo với những cơn mưa bất tận, cái rét buôn buốt vây quanh. "Những lúc đó tau nhớ Huế da diết". Ông kể không ít lần "bỏ trốn" về Huế vì nhớ nhà. Leo lên xe đò đi vòng ra tận Quảng Trị để về Huế với quãng đường hơn 200 cây số thay vì đợi hàng tuần có xe đi thẳng từ A Lưới về Huế chỉ bằng 1/3 quãng đường. "Có bữa tau cùng đồng nghiệp đi bộ khi chưa có thông báo nghỉ Tết", ông nhớ lại, cho dù sau đó bị phòng giáo dục khiển trách. Vậy mới hay, nỗi nhớ nhà khi ở xa xứ như thế nào. Ông nói, ông sợ ma từ nhỏ. Vậy mà, từ khi lên dạy trên đó, ông có phần ít sợ. Trên núi, trời tối nhanh. Bóng đêm bao quanh. Chỉ có tình người sưởi ấm tình người. Vậy mà bớt cô quạnh.
Ông kể, có lần ông bị cảm nặng mấy ngày liền. Nhà trường quyết định đưa ông ra trạm xá cách đó 20 cây số. Không điện thoại. Không xe ô tô đưa đón. Dù có xe ô tô cũng không thể di chuyển trên những con đường ngoằn ngoèo giữa rừng lau lách. Ba cậu học sinh đồng bào lực lưỡng được phân công gánh thầy giáo trên võng hướng ra trạm xá. Đường xa cách trở. "Lúc đó, tau làm lạ, gắng gượng hỏi đứa học trò sao đưa tau ra trạm xá còn cầm theo cây cuốc làm chi? Đứa học trò cười tủm tỉm: "dọc đường lỡ thầy chết thì chôn thầy luôn". "Nghe đến đó, tau không muốn chết chút mô hết", ông kể lại với cảm giác không khỏi rùng mình. Ông kể, làm nghề giáo phải yêu nghề. Ngày ấy, không ít người đã bỏ nghề vì không chịu được sự vất vả và cô đơn trên vùng sâu, vùng xa này.
Từng có ý định bỏ dạy, nhưng khi đối diện với người cha nghiêm khắc, ông đã không dám vượt qua. Ông nói, nghiệp nhà giáo ông có lẽ là vậy. Rồi tình yêu đã nhen nhóm. Như ngọn lửa hồng giữa đêm đông lạnh giá. Người con gái rất Huế trắng trẻo, nhỏ nhắn và xinh xắn đã xuất hiện. Trái với vẻ bên ngoài, cô ấy mạnh mẽ và tự lập. Tình yêu từ đó cũng lên ngôi. Họ đã yêu nhau, bên nhau những năm tháng đầu của cuộc hôn nhân và kéo dài đến bây giờ. Lắm nụ cười. Lắm nước mắt. Nhưng ở nơi nắng gió của vùng đất hoang sơ A Lưới đã nuôi dưỡng thứ tình yêu bất diệt. Tình yêu của đôi nam nữ. Tình yêu của người chọn nghề nhà giáo làm nghiệp của mình. "Tau nhớ A Lưới. Nhớ đám học trò đồng bào lắm!", ông nhìn về phía tây thành phố với ánh mắt xa xăm...
Ông ấy là cha vợ của tôi.
Lê Huy