ClockThứ Tư, 06/02/2019 07:19

Biểu tượng nhân văn của văn hóa Huế

HNN - Tiếng “dạ” là vũ khí văn hóa, nhân văn đặc thù của Huế vì nó được dùng như một phương tiện diễn đạt cảm xúc và ý nghĩ từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu, từ phục tùng đến phản kháng, từ yêu thương đến thách đố, khước từ…

Sắc màu Trường Tiền. Ảnh: Tường Vy

Nhận diện văn hóa của một đất nước hay của một vùng đất nào đó trên mặt địa cầu này thường có quá nhiều hình tượng và đề tài để nói: Có thể, đó là “biểu tượng nhân văn” do con người dựng lên hay nhờ có bàn tay con người gìn giữ và bảo vệ sản phẩm của thiên nhiên lâu dài mới còn tồn tại. Như tháp Eiffel của Pháp, Kim Tự Tháp ở Ai Cập, lá phong ở Canada hay con chuột túi (Kanguru) ở Úc. Hoặc có khi chỉ là một âm vị của ngôn ngữ, như tiếng “Ok” của Mỹ, “Amen” của đạo Chúa và “Nam mô” của đạo Phật… Nhưng rốt lại, chỉ còn một nét nào đó nổi bật nhất mà chỉ cần nhìn hay nói ra là sẽ nhận được ngay câu trả lời tên nước, tên vùng.

Chắc nhiều người còn nhớ ngày Hội Huế đầu tiên diễn ra ở Mỹ năm 1985, khi nhà thơ Thành Đạt đưa giải thưởng “1.000 hột sen Tịnh Tâm” rất quý hiếm vào thời điểm nầy cho ai chọn “một cái gì” bình dân và đơn giản nhất mà ai cũng biết cũng quen dùng tượng trưng cho Huế. Người ta đã đưa ra nhiều hình ảnh, tiếng nói làm “biểu tượng” cho Huế, như chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, cửa Ngọ Môn, núi Ngự Bình, hoặc tiếng nói: “Mô, tê, răng, rứa”…

Đồi Vọng Cảnh. Ảnh: Văn Đình Huy

Nhưng kết quả thật thú vị vì người trúng giải là chị Tịnh Như đã chọn tiếng “dạ” làm biểu trưng cho Huế. Nhiều người trong cuộc Hội Huế không đồng ý vì tiếng “dạ” là tiếng Việt mà người dân trong cả ba miền Bắc - Trung - Nam đều dùng chứ không riêng gì ở Huế. Tuy nhiên, chị Tịnh Như đã lý giải một cách đầy thuyết phục rằng: “Tiếng “dạ” là vũ khí văn hóa, nhân văn đặc thù của Huế vì nó được dùng như một phương tiện diễn đạt cảm xúc và ý nghĩ từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu, từ phục tùng đến phản kháng, từ yêu thương đến thách đố, khước từ…”

Trường hợp điển hình:

- Hỏi: Con thích bún bò Mệ Chéo không?

- Đáp: Dạ, con thích lắm! (tiếng “dạ” đồng ý, khẳng định)

- Hỏi: Anh nhớ em?

- Đáp: Dạ, em cũng nhớ anh lắm (tiếng “dạ” đồng tình, cảm xúc).

- Hỏi: Con đi với thằng Nam cả canh buổi chừ mới về phải không?

- Đáp: Dạ (ạ… ă… ắ…)? ( tiếng dạ uốn lượn và nhấc lên cuối câu để tỏ bày câu trả lời vừa xác định vừa nghi vấn như nói rằng: “Con có đi với anh ấy mà có can chi không?”).

- Hỏi: Con khoan đi, ở nhà rửa chén bát xong rồi đi”.

- Đáp: Dạ (a… à… ạ…)! (Tiếng dạ kéo dài và rớt xuống nặng nế cuối câu để diễn tả sự vâng lời nhưng miễn cưỡng, bực bội).

- Hỏi: Con có nghe tin đồn đó không?

- Đáp: Dạ (a…á)? (tiếng dạ như một câu hỏi lại).

Trong nhiều hoàn cảnh và địa phương khác nhau, tiếng “dạ” của Huế còn được sử dụng một cách tinh tế, diễn cảm, bất ngờ nhưng lại có tác dụng như cả một lời diễn đạt và giải thích khéo léo bằng âm thanh qua tiếng nói.

Khi tiếng “thưa” đi kèm sau tiếng “dạ” thành “dạ thưa” là lời khai mở cho câu nói trang trọng, lễ độ; nhưng cũng có khi ngại ngùng và xa cách. Tiếng “dạ thưa” dùng phổ thông trong đại chúng: “Dạ thưa bà con, tui xin có ý kiến…” là một cách bày tỏ sự tôn trọng, lễ độ. Nhưng tiếng “dạ thưa” lọt qua cửa ngõ tình tự: “Dạ thưa, em còn nhỏ; thương rồi mà chưa biết yêu!” thì có cơ trở thành… bùa mê (?!)

Đá Bạc. Ảnh: Văn Đình Huy

Trong bối cảnh văn chương nghệ thuật Việt Nam, những trao đổi khách quan thật khó. Anh nhà văn thì cho rằng: “Thi sĩ là nhà văn không thành!”. Đối lại, những nhà thơ thì lại cho rằng: “Văn sĩ là nhà thơ không thành!” Nhưng con người và cách nói chỉ là phương tiện; trong khi cứu cánh tinh hoa của nghệ thuật chính là tác phẩm. Những sáng tác văn học nghệ thuật chính là tụ điểm của nghệ thuật, nơi đó, cả nhà thơ, nhà văn và muôn nhà nghệ sĩ gặp nhau. Như trong phương ngữ Huế, tiếng “dạ, thưa” là một tụ điểm của nghệ thuật và đời thường đã khiến cho cả người trong cuộc và kẻ bên ngoài đều muốn nghe, muốn nhận, muốn còn và muốn được. Không ai có thể từ chối lắng nghe với niềm cảm khái trước điệu nói dịu dàng của người con gái Huế hầu như trong mọi tình huống và hoàn cảnh; dẫu đó là sự lễ độ, bày tỏ, câu hỏi, lời mời hay khước từ thì tiếng “dạ… thưa” đều được nói lên một cách tự nhiên, hòa quyện trong từng câu nói, không điệu đà sắp xếp nhưng tác dụng của sự lễ độ, khiêm cung, gọi mời, xác quyết : “Dạ thưa dì, mời dì ngồi chơi. Dạ con không biết mạ con đi mô…” hay “Dạ con học lớp 10…”, “Dạ thưa anh, anh tên chi?”, “Dạ mời anh ghé chơi” và cả “Dạ em không thích” và rất nhiều “dạ… thưa” hòa quyện trong từng câu nói.

Người ngoài xứ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, viếng Huế rồi ra đi, ai cũng mang theo trong hành trang nghệ thuật của mình tiếng “Dạ… thưa” của Huế.

Trác tuyệt mà tửng tửng như Bùi Giáng đã đưa tiếng dạ thưa của Huế thành một suy niệm “như như tự tại”:

Dạ thưa xứ Huế bây giờ,

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương.

Hoặc như Xuân Hoàng đã nâng tiếng dạ thưa của người con gái Huế thành “tứ biểu tượng” của Huế là: Mưa Huế, chùa Huế, sông Hương và tiếng dạ thưa của người con gái:

“Ở đây dằng dặc những ngày mưa

Bông sứ trầm tư lặng cổng chùa

Có một dòng sông trôi chẳng nỡ

Có người con gái “dạ, xin thưa...”

 (Nét Huế - Xuân Hoàng)

Và, Huỳnh Văn Dung đã phóng chiếu tiếng dạ thưa ngọt lịm thành nỗi đam mê sương khói:

Giữ chút gì rất Huế mặn mà

Dạ thưa, ngọt lịm ai mê say

Em đi gót nhẹ xanh hồn cỏ

Và hơi thở mềm sương khói bay

 (Rất Huế - Huỳnh Văn Dung)

Thời gian trôi qua, không gian thay đổi và con người chuyển biến theo hoàn cảnh. Nhưng chỉ riêng tiếng “dạ… thưa” của Huế là không biến tướng, thay hình đổi dạng. Tiếng Huế có hai kiểu cách bày tỏ: Giọng dinh và giọng quê. “Giọng dinh” là cách nói và phát âm của những người Huế ở thành phố hay là những người Huế được tiếp cận nhiều với bài bản và sách vở nên giọng nói nhẹ, tiếng dùng gần với tiêu chuẩn quy ước. Trong khi đó thì “giọng quê” phát âm nặng với nhiều từ ngữ không có trong sách báo, từ điển. Ví dụ. Giọng dinh: “Hai vợ chồng đó gây nhau, ra giữa sân đánh nhau!” Giọng quê: “Hai cấy dôn nớ ngầy dau, ra trửa cươi đập chắc!” Dẫn chứng này có tính cách hơi thậm xưng nhưng minh họa được tính cách đa dạng của phương ngữ Huế. Thế nhưng, trường hợp tiếng “dạ… thưa” thì đặc biệt khắp mọi vùng nông thôn và thành thị Huế đều biểu hiện như nhau.

Những người xa Huế hơn ba chục năm khi trở về thăm Huế, có thể thấy chiếc áo dài của những “o”, những “thím”, những “dì” buôn gánh bán bưng ít đi, nhưng tiếng “dạ…thưa” thì vẫn còn nguyên mượt mà trên từng cửa miệng. Khách phương xa về thăm Huế, tản bộ trên các vùng quê, thường sẽ rất ngạc nhiên và thú vị khi nghe và thấy các cháu học sinh trường làng, cúi đầu cung kính chào: “Dạ thưa ôông!” mà không cần biết quen hay lạ.

Ngôn ngữ là một phương tiện đặc thù của từng nhóm người và xã hội. Tuy tiếng Việt “dạ…thưa” đâu cũng có nhưng với âm điệu giọng Huế nó trở thành trầm lắng và khiêm nhã một cách tự nhiên không mang tính nghi thức hay khách sáo.

Đặc biệt, thế hệ trẻ gia đình gốc Huế sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, nếu còn nói được tiếng Việt thì tiếng “dạ…thưa” vẫn còn được kế thừa như một gia sản đầy hương hoa chưa nỡ bị đánh mất hay đi vào quên lãng.

Trần Kiêm Đoàn

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Khi văn hóa thành sức mạnh dẫn đường trong kỷ nguyên vươn mình

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt, định hướng phát triển đất nước đến năm 2030 và mở ra “kỷ nguyên vươn mình”. Với TP. Huế - đô thị di sản giàu chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa - Đại hội càng gợi nhiều kỳ vọng: cụ thể hóa tư duy phát triển mới thành động lực địa phương, phát huy văn hóa và con người theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW.

Khi văn hóa thành sức mạnh dẫn đường trong kỷ nguyên vươn mình
Thông tin doanh nghiệp:
Đào Tấn Diamond - Biểu tượng nhà phố đa chiều thời đại mới sắp ra mắt

Trong bối cảnh quỹ đất trung tâm Thành phố Huế ngày càng thu hẹp, những sản phẩm bất động sản vừa có khả năng khai thác linh hoạt, vừa tích lũy giá trị bền vững theo thời gian đang trở nên đặc biệt khan hiếm. Đào Tấn Diamond xuất hiện không như một dự án đại trà, mà được định vị ngay từ đầu là bộ sưu tập giới hạn 29 căn nhà phố mặt tiền, phát triển chọn lọc tại vùng lõi trung tâm thành phố.

Đào Tấn Diamond - Biểu tượng nhà phố đa chiều thời đại mới sắp ra mắt
Bền bỉ giữ gìn văn hóa Huế

“Nghiên cứu Huế” là bộ sách về Huế, hình thành từ niềm yêu mến văn hóa Huế của các nhà nghiên cứu, được kỳ vọng là một tạp chí khoa học xứng đáng để tiếp nối B.A.V.H của Hội Đô thành Hiếu cổ.

Bền bỉ giữ gìn văn hóa Huế
Trao tặng tượng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cho 40 xã, phường

Ngày 16/12, thừa ủy quyền của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) thành phố tổ chức trao tặng tượng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cho 40 xã, phường trên địa bàn TP. Huế. Tham dự có ông Trần Hữu Thùy Giang, Phó Chủ tịch UBND thành phố.

Trao tặng tượng chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh cho 40 xã, phường

TIN MỚI

Return to top