 |
| Bìa sách “Sắc phong Triều Nguyễn tại một số di tích trên địa bàn TP. Huế” |
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia tại nhiều điểm di tích trên địa bàn các xã, phường của TP. Huế, như: đình làng Thế Lại Thượng, An Cựu, Xuân Hòa, Chiết Bi, Kim Long, Bao Vinh, Nguyệt Biều… Hầu hết các sắc phong ở các đình làng này đều chung một đặc điểm với hệ thống sắc phong thần dưới thời Nguyễn, là văn bản chính thức của triều đình dùng để phong chức tước, xếp hạng các vị thần, Thành hoàng thờ tại đình làng, miếu mạo. Đây là loại cổ vật độc bản, thường được viết trên giấy dó, thể hiện quyền uy tối thượng của triều đình và giá trị văn hóa tâm linh của cộng đồng, do “Hoàng đế phong tặng và xếp hạng cho tất cả các thần linh được thờ cúng trong dân gian”, được xem là tư liệu quý xét trên nhiều bình diện.
Không chỉ có giá trị về mặt hành chính, chính trị, những bản sắc phong thần còn chứa đựng ngôn ngữ Hán Nôm chuẩn mực, kỹ thuật thư pháp tinh tế, kỹ thuật in ấn và trang trí đậm chất cung đình. Thông qua mô tả về chất liệu giấy, họa tiết trang trí, ấn triện, kiểu chữ, niên hiệu… người đọc có thể hình dung rõ hơn trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cung đình Triều Nguyễn. Từ giấy long đằng màu vàng tươi dưới thời Minh Mạng, Tự Đức đến loại giấy vàng thẫm, dày và cứng dưới triều Khải Định; từ họa tiết long, ly, quy, phượng, mây, lửa, sóng nước đến các đồ án “ngũ thọ”, dây lá nho, kỷ hà…, tạo nên một thế giới nghệ thuật tinh xảo, nơi mỗi sắc phong vừa là văn bản hành chính, vừa là tác phẩm thư pháp và trang trí mang giá trị thẩm mỹ riêng.
Về niên đại, sớm nhất là hệ thống các đạo sắc phong được cấp ban vào ngày 25/8/1826 dưới thời Vua Minh Mạng hiện đang bảo lưu tại làng Nguyệt Biều và làng Sình, và muộn nhất là đợt cấp ngày 4/5/1938 tại đình làng An Cựu. Theo nhóm nghiên cứu, cùng với hệ thống thiết chế văn hóa hiện tồn, các bản sắc phong này là nguồn tư liệu trực tiếp tham gia xác minh dấu ấn, công trạng của các vị công thần.
Những người biên soạn tin rằng đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho những nhà nghiên cứu cùng với những ai đam mê lịch sử, Hán Nôm, văn hóa, mỹ thuật… Nếu xét ở góc độ thời đại, đây không chỉ là quá trình lưu giữ, bảo tồn nguồn tư liệu di sản quý giá mà còn là hành động ý nghĩa, tri ân những ký ức văn hóa cộng đồng.
Ở một bình diện sâu hơn, sự ra đời của cuốn sách còn mang ý nghĩa như một hành động bảo tồn ký ức cộng đồng. Trong quá trình điền dã, các tác giả đã kết hợp chuyên môn Hán Nôm với nghiệp vụ bảo tồn, đồng thời làm tốt công tác dân vận để tiếp cận được những tư liệu đang được lưu giữ tại đình làng, nhà thờ họ hoặc tư gia.