|
| Khách du lịch nước ngoài tham quan làng gốm Bát Tràng (Hà Nội). (Ảnh: ĐĂNG ANH) |
Thông báo số 12-TB/BCĐTW ngày 30/7/2026 kết luận Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng mới, giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các đơn vị liên quan hoàn thiện dự án Luật, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10) theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Việt Nam sở hữu kho tàng di sản phong phú, lực lượng sáng tạo trẻ, thị trường hơn 100 triệu dân và hạ tầng số phát triển nhanh. Đây là những điều kiện thuận lợi để các ngành công nghiệp văn hóa mở rộng quy mô.
|
|
|
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018-2022 ước bình quân đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD). Trong 5 năm, số lượng cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành này tăng bình quân 7,2%/năm; năm 2022 có 70.321 cơ sở đang hoạt động liên quan công nghiệp văn hóa.
|
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018-2022 ước bình quân đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD). Trong 5 năm, số lượng cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành này tăng bình quân 7,2%/năm; năm 2022 có 70.321 cơ sở đang hoạt động liên quan công nghiệp văn hóa. Lực lượng lao động tăng khá nhanh, bình quân 7,4%/năm.
Số liệu trên cho thấy công nghiệp văn hóa đã hình thành nền tảng thị trường và nguồn lực nhưng chưa phát huy tương xứng tiềm năng. Một trong những điểm nghẽn nằm ở hệ thống chính sách và pháp luật. Các luật chuyên ngành hiện chủ yếu đáp ứng yêu cầu quản lý từng lĩnh vực, chưa tạo được sự liên kết giữa các nguồn lực để hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh.
Vì vậy, các lĩnh vực của công nghiệp văn hóa đang vận hành rời rạc. Không ít doanh nghiệp sáng tạo, nhất là trong lĩnh vực trò chơi điện tử và phim hoạt hình, chủ yếu gia công cho thị trường quốc tế, chưa tạo dựng được tài sản trí tuệ mang thương hiệu riêng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa phụ thuộc vào tốc độ hoàn thiện thể chế. Nhiều quốc gia xác định công nghiệp văn hóa là lĩnh vực quan trọng và ưu tiên phát triển. Chẳng hạn, Hàn Quốc đã ban hành Luật khung về thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa từ năm 1999.
Mới đây nhất, ngày 22/7/2026, nước này bổ sung 150 tỷ won (khoảng 108 triệu USD) cho Quỹ Phát triển giá trị văn hóa; trong đó khoảng 100 tỷ won dành cho trí tuệ nhân tạo (AI) và sở hữu trí tuệ, ưu tiên doanh nghiệp ứng dụng AI vào sáng tạo nội dung và chuyển thể tài sản trí tuệ trong âm nhạc, trò chơi, video; 50 tỷ won hỗ trợ sản xuất, phân phối các sản phẩm nội dung truyền thống.
Hay Trung Quốc, dù chưa ban hành luật công nghiệp văn hóa nhưng nhiều văn bản dưới luật đã thúc đẩy lĩnh vực này. Ngày 28/7 vừa qua, Trung Quốc mở dữ liệu về các di tích văn hóa thuộc sở hữu nhà nước, tạo nguồn tài nguyên cho phát triển tài sản trí tuệ văn hóa. Gần như cùng lúc, hai nền công nghiệp văn hóa hàng đầu châu Á cùng đưa ra chính sách mới, tập trung vào AI và tài sản trí tuệ. Cuộc cạnh tranh hiện nay nằm ở khả năng hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực sáng tạo.
Từ yêu cầu thực tiễn, dự thảo Luật dự kiến tập trung vào các nhóm chính sách lớn như hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ văn hóa, hạ tầng, nguồn nhân lực, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa...
Từ yêu cầu thực tiễn, dự thảo Luật dự kiến tập trung vào các nhóm chính sách lớn như hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, tài sản trí tuệ văn hóa, hạ tầng, nguồn nhân lực, sàn giao dịch công nghiệp văn hóa... Một khuôn khổ pháp lý với tầm nhìn dài hạn, có khả năng khơi thông nguồn lực và linh hoạt trước thay đổi của công nghệ và thị trường sẽ chuyển tiềm năng văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó cũng là con đường đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực phát triển mới của đất nước.
https://nhandan.vn/dua-cong-nghiep-van-hoa-thanh-dong-luc-tang-truong-moi-post980708.html