Nhất quán từ thượng tầng đỉnh cao của triều đình trung ương với các thiết chế đàn tràng quy mô như Đàn Xã Tắc, Đàn Tiên Nông cùng điển lệ cày Tịch điền đầy tính biểu trưng, mạch nguồn ấy đã thấm sâu và chuyển hóa một cách sống động vào tận dòng chảy tự quản của từng làng xã thôn xóm qua hệ thống hương ước, khoán lệ và thực hành tri thức dân gian trong sản xuất, sinh hoạt và tín ngưỡng. Trong không gian văn hóa cơ sở của làng xã vùng Huế, từ am miếu thờ phụng Thần Nông/Thần Lúa cho đến các quy định nghiêm cẩn về bảo vệ tư liệu sản xuất và trích lập quỹ công điền dự phòng khi thất bát, tất cả đã làm nên một bức tranh toàn cảnh đồng bộ. Đó là sự dung hòa tuyệt vời giữa kỷ luật nông nghiệp thực tiễn và đời sống tâm linh thuần hậu, minh chứng cho một triết lý an sinh xã hội bền vững, lấy “gốc dân” và sự sinh sôi của hạt lúa làm nền tảng cho sự trường tồn của cộng đồng.
Triết lý Dĩ nông vi bản (lấy nông làm gốc)
Trong suốt chiều dài lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam nói chung và thời Nguyễn nói riêng, tư tưởng Trọng nông luôn được định vị là cốt lõi trong đường lối trị quốc, đến tận đời sống làng xã. Đất đai và cây lúa không đơn thuần là sinh kế, mà còn là cái gốc của sự ổn định chính trị, là nền tảng cấu thành hệ thống tín ngưỡng thiêng liêng từ Thiên tử cho đến quan binh, dân chúng.
Sự đồng bộ trong tư tưởng trọng nông thời Nguyễn thể hiện rõ nét ở chỗ triều đình ban thiết chế, luật pháp và điển lễ; làng xã tiếp nhận, cụ thể hóa thành hương ước, khoán lệ phù hợp tối ưu với thực tiễn cuộc sống địa phương để bảo vệ sản xuất và duy trì các nghi thức thờ phụng Thần Nông, Thần Đất, Thần Lúa. Qua các nguồn tài liệu, có thể phác họa bức tranh toàn cảnh về mối liên kết chặt chẽ đó, minh chứng cho một hệ thống quản trị quốc gia đồng nhất, thấm đẫm tinh thần nhân văn và thực tiễn của xứ Huế xưa.
Chủ nghĩa Trọng nông từ thiết chế của triều đình trung ương
Trước hết, Đàn Xã Tắc là biểu tượng giang sơn và niềm tin vào thần đất, thần lúa - ngũ cốc. Dưới triều Nguyễn, việc khẳng định chủ quyền luôn gắn liền với khát vọng cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Năm 1806, triều đình cho xây đắp Đàn Xã Tắc ở bên trong Kinh thành, là một công trình kiến trúc đặc biệt, nơi kết tinh thiêng liêng của giang sơn cẩm tú mọi miền khi vua hạ lệnh cho các thành, dinh, trấn trong cả nước phải cung tiến đất sạch về Kinh sư để đắp đàn.
Về mặt kiến trúc, Đàn Xã Tắc được thiết kế hai tầng vuông, trang nghiêm. Ở tầng trên, mặt đàn sử dụng đất ngũ sắc bố trí theo ngũ phương (giữa màu vàng, đông màu xanh, tây màu trắng, nam màu đỏ, bắc màu đen) tượng trưng cho sự nhất thống toàn bờ cõi Tổ quốc. Trong hệ thống thần vị, án chính giữa thờ hai vị thần chi phối trực tiếp đến vận mệnh nông nghiệp quốc gia là Đại Xã (thần đất lớn) và Đại Tắc (thần ngũ cốc lớn). Đàn Xã Tắc được định lệ tế tự ngặt nghèo, mỗi năm tổ chức đại lễ hai kỳ Xuân (tháng 2) Thu (tháng 8), do hoàng đế thân hành đến tế hoặc cử đại quan, hoàng thân khâm mạng.
Ở Đàn Tiên Nông và nghi lễ cày Tịch điền, nổi rõ bài học "Thân giáo" của bậc minh quân. Nếu Đàn Xã Tắc mang tính chất quốc gia đại bái, thì Đàn Tiên Nông, được dựng từ năm 1828 trong Kinh thành cùng khu ruộng Tịch điền, chính là biểu tượng hành động của triết lý khuyến nông. Hằng năm, vào ngày tốt hạ tuần tháng 4, tổ chức lễ tế thần Tiên Nông - vị thần dạy dân gieo trồng. Ngay sau nghi thức tế lễ, nhà vua sẽ trực tiếp xuống ruộng cày những luống đầu tiên trên mảnh ruộng Tịch điền thực canh. Hành động biểu trưng có tính nghi lễ thiêng liêng đó như một mệnh lệnh tinh thần, nêu gương cho trăm họ siêng năng việc nông tang. Hệ thống công trình phụ trợ quanh đàn như Thần thương (kho chứa thóc), Thần trù (bếp), và đặc biệt là Đài Quan Canh (nơi vua ngồi quan sát) cho thấy sự quy củ, nghiêm túc trong việc vận hành nghi lễ này.
Đặc biệt vua Minh Mạng từng “Ngự chế 11 bài nông ngạn" thể hiện nhiều tri thức thiên văn ứng dụng độc đáo. Tư tưởng khuyến nông của triều đình không dừng lại ở lễ nghi, mà còn được đúc kết thành tri thức thực tiễn, như các bài ngự chế giúp hướng dẫn người dân suy nghiệm và phòng bị sản xuất. Nội dung nổi bật là sự gắn kết Thiên - Địa - Nhân khi nhắc nhở người nông dân nhìn sắc trời đêm trừ tịch (nửa đêm trời sáng, nền đất tối thì trúng mùa lúa) hoặc nhìn chòm sao Mão mọc vào tháng 5 để chọn thời vụ cấy sớm hay muộn. Trong cảnh báo thiên tai, sử dụng kinh nghiệm dân gian quan sát chuồn chuồn, châu chấu, hướng măng tre mọc mùa hè để dự báo bão lớn. Tất cả đã toát lên tư tưởng, triết lý lấy dân làm gốc, như bài nông ngạn số 10 và 11 nhấn mạnh, hễ năm nào mưa thuận gió hòa, lúa gạo đầy bồ thì "bốn cõi đều vui vẻ, nhà nông được hả hê". Đó chính là mục đích tối thượng của vương triều, lấy niềm vui được mùa của người dân làm niềm vui chung của thiên hạ.
Sự tiếp biến và thực thi khuyến nông tại làng xã
Tinh thần nhất quán của chủ nghĩa trọng nông được minh chứng sinh động khi đi vào đời sống tự quản của các làng xã vùng Huế qua hệ thống hương ước, khoán lệ và tri thức bản địa, sinh hoạt sản xuất và đời sống nghi lễ dân gian.
Vận hành đời sống làng xã là bộ máy tổ chức chuyên trách, kỷ luật nông nghiệp nghiêm ngặt. Để bảo vệ mùa màng trước thiên tai xói lở và hạn mặn, các làng xã đã thiết lập những chức danh chuyên trách có tính chất hành chính - kỹ thuật rất cao, như Tri hương và Hương mục. Làng Thế Lại Thượng đặc biệt chú trọng việc cắt cử chức Tri hương để trông coi đê điều, sông ngòi, ranh giới. Khi hạn hán hoặc xâm nhập mặn, Tri hương có quyền điều động dân phu đắp đập, nạo vét dòng sông dẫn nước ngọt rửa mặn bảo vệ mùa màng. Nếu tắc trách gây ảnh hưởng sản xuất, sẽ bị làng "trách phạt nặng". Tương tự, nhiều làng cũng lập ra các chức Hương mục để bảo vệ bền vững hệ thống thủy lợi. Đồng thời, việc nông tang còn được bảo vệ nghiêm ngặt từ khâu gieo mạ, các hộ nuôi gà, vịt phải nhốt lại, nếu thả rông phá hoại ruộng mạ, người dân có quyền bắt giữ. Thậm chí khi lúa sắp chín, ai để vịt bới rong qua lại, hay để trâu bò ăn phá lúa, khoai, cũng sẽ bị phạt nặng, để giữ nghiêm phép làng.
Làng xã rất chú trọng tới việc quản lý, bảo vệ quỹ ruộng đất công như là nền móng an sinh xã hội đặc biệt, với nhận thức sâu sắc rằng "đất công, ruộng công quan hệ đến gốc dân". Do đó, các điều khoản bảo vệ tư liệu sản xuất được thiết lập chặt chẽ nhằm chống lại sự tích tụ ruộng đất phi pháp. Nguyên tắc quân cấp (chia ruộng) công bằng được đảm bảo, thường thì ruộng công được chia thành hai bậc xấu - tốt đan xen, phân bổ đều để đảm bảo "ai nấy nhận canh tác phần xấu tốt đều nhau", nghiêm cấm hương hào cậy thế chiếm giữ ruộng tốt. Từ đó, làng xã cương quyết ngăn chặn thất thoát đất canh tác, cấm lấn chiếm ruộng công để làm nhà, nhất là chống chảy máu tư liệu sản xuất ra ngoài. Người dân nghèo khó muốn bán ruộng đất công thì chỉ được phép bán cho người trong làng, nếu bán đứt ra làng khác thì văn khế sẽ bị hủy, ai liên đới đều bị luận tội phạt nặng. Đồng thời, làng xã nghiêm cấm các hạng nhà giàu lợi dụng lúc ngặt nghèo để "bắt chẹt giá cả đòi đổi lấy ruộng đất hạ giá".
Am Thần Nông trong đời sống tín ngưỡng làng xã
Kinh tế nông nghiệp và đời sống tâm linh tại làng xã là hai mặt quan trọng, hòa quyện tạo nên sự bền vững của cộng đồng. Trước hết là nghi lễ bái tế Thần Nông và cầu mùa tại làng xã, luôn xuyên suốt rõ nét tinh thần tôn thờ sự phồn thực, sinh sôi nảy nở của hạt lúa và các vị thần nông nghiệp (Thần Nông, Thần Lúa-Ngũ Cốc, Thần Đất). Đặc biệt, làng xã luôn dành riêng quỹ đất (Tự điền) cho việc tế tự lễ nghi, để cho thuê hoặc đấu giá lấy hoa lợi trang trải chi phí cho các nghi lễ nông nghiệp. Trong đời sống làng xã luôn hiện hữu sống động hệ thống lễ tiết dày đặc, gắn liền chu kỳ sản xuất nông nghiệp như gieo mạ, hạ điền (xuống ruộng), diệt trừ sâu bọ (diệt trùng), cầu được mùa, thượng điền,...., với phẩm vật lễ nghi phù hợp với hoàn cảnh (heo, gà…), trước sự tham gia của đông đủ chức sắc, bô lão và dân làng. Ở đó, sự tôn nghiêm trong hành lễ phải luôn được bảo đảm, thậm chí như nghi lễ hạ điền được kiểm soát nghiêm ngặt, vị chánh tế và bồi tế phải “hợp tuổi”, tang gia không được tham dự. Điểm đặc sắc là sau nghi lễ cúng tế tại am miếu, vị chủ tế sẽ phát hiệu lệnh để dân đinh đồng loạt xuống ruộng cày cấy “làm phép” đầy biểu trưng tương tự hành vi cày Tịch điền của nhà vua ở cấp độ làng xã.
Tính nhân văn trong đời sống làng xã truyền thống Huế còn được thể hiện rõ nét qua Quỹ cứu trợ nông nghiệp với tinh thần "Tương thân tương ái" khi thất bát. Ngoài việc cầu mong nhận được sự bảo trợ, chở che của các vị thần linh, người dân còn chủ động thiết lập một cơ chế an sinh cực kỳ tiến bộ để giảm thiểu khó khăn, thiệt hại lúc mất mùa. Trong cơ chế vận hành quỹ công điền dự phòng tại làng Thế Lại Thượng, cứ 3 năm một lần, khi tiến hành quân cấp ruộng đất, mỗi người từ quan lại đến binh dân đều phải trích ra ba thước ruộng đóng góp vào quỹ. Số ruộng này được gom lại đem cho thuê hoặc tổ chức canh tác công, hoa lợi thu được giao cho chủ thủ tích lũy cả vốn lẫn lời qua từng năm. Để dành cho khi làng "gặp năm thất bát" (mất mùa) hoặc có người lâm vào cảnh nghèo khổ, bức thúc, sẽ trích quỹ để kịp thời cứu giúp, trợ cấp phương kế sinh sống. Bên cạnh đó, để bảo vệ thành quả lao động, trật tự trị an thì đồng ruộng được giữ vững bằng hình phạt nghiêm khắc, ai lẻn vào ruộng vườn trộm cắp nông sản, hoa quả sẽ bị phạt nặng, thậm chí còn liên đới trách nhiệm tới cả phụ huynh, với mâm trầu rượu vì không biết răn dạy con cái.
Từ Trọng nông đến Khuyến nghệ: Sự chuyển biến tư duy
Mặc dù hệ tư tưởng trọng nông cốt lõi rất khắt khe, nhưng cũng có thể thấy được bước chuyển mình tiến bộ của tư duy kinh tế làng xã vào đầu thế kỷ XX. Làng xã nhận ra rằng nếu chỉ dựa vào ruộng đất thì khó lòng đối phó toàn diện với nạn thiên tai, binh hoả, mất mùa nên vấn đề cấp thiết được đặt ra là cần phải “chăm lo nghề nghiệp” một cách toàn diện. Làng xã chủ trương giữ vững nghề nông nhưng cũng phải chấn chỉnh, khuyến khích nghề thợ (thủ công nghiệp) và nghề buôn (thương nghiệp). Những ai chuyên tâm làm giàu chính đáng từ hai nghề này sẽ được khuyến khích, nêu gương. Đặc biệt, nếu người dân sáng tạo ra công nghệ mới sẽ được khen thưởng lớn; nếu mở được cửa hàng buôn bán có ích cho xã hội thì được miễn trừ tạp dịch và yết bảng vinh danh. Đây là một tư duy mở, bổ sung cho chính sách khuyến nông, tạo ra một hệ sinh thái kinh tế làng xã năng động và có sức chống chịu cao hơn trước các biến động của tự nhiên và lịch sử.
Tạm kết
Từ các nguồn tư liệu của triều đình trung ương đến hương ước làng xã vùng Huế, có thể thấy chủ nghĩa trọng nông thời Nguyễn không thuần tuý chỉ là một khẩu hiệu mà thực sự là cả một hệ thống chính sách nhất quán, toàn diện, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Nhà nước và Người dân. Triều đình ban hành thiết chế văn hóa tâm linh (Đàn Xã Tắc, Đàn Tiên Nông) để tạo điểm tựa tinh thần và đúc kết tri thức khoa học, thiên văn phục vụ sản xuất. Làng xã tiếp thu trọn vẹn tinh thần đó, cộng hưởng phát huy với tri thức dân gian “lão nông tri điền” để hiện thực hoá qua những quy định và hoạt động hành chính đậm giá trị thực tiễn, như cử người hộ đê bảo vệ mùa màng, giữ chặt đất công bình đẳng, thiết lập quỹ dự phòng mất mùa và duy trì các lễ tế Thần Nông nghiêm cẩn.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn, nhịp nhàng giữa kỷ luật nông nghiệp khắt khe và tín ngưỡng tâm linh thuần hậu chốn làng quê đã tạo nên sức sống bền bỉ của làng xã nơi đây, giúp người nông dân luôn vững vàng trong đời sống lao động và tinh thần, bảo vệ ruộng đất và giữ gìn mạch sống bền chặt, thong dong của quê hương qua bao thế kỷ thăng trầm.