ClockChủ Nhật, 28/01/2024 07:32

Du lịch cộng đồng Tây Bắc làm như thế nào?

HNN - Du lịch cộng đồng là một khái niệm hẳn chúng ta đã từng nghe. Ở Huế nghe nhắc đến nhiều nhất là du lịch cộng đồng A Roàng (huyện A Lưới). Trước đây thì có thêm du lịch cộng đồng thôn Dỗi (xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông), nhưng nay thì ít nghe nhắc đến (không biết nó có phát triển được hay không).

Phát huy lợi thế liên kết để phát triển du lịchThúc đẩy du lịch cộng đồng

Du khách thích thú với những sản vật địa phương khi tham quan tại bản Dỗi, Nam Đông 

Du lịch cộng đồng hiểu nôm na là mô hình cung cấp dịch vụ du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Tôi vừa có dịp đến hai điểm du lịch cộng đồng ở vùng Tây Bắc và rút ra một số điều. Có thể đây là những kinh nghiệm mà du lịch cộng đồng ở Huế có thể tham khảo.

Đến tỉnh Hòa Bình, tôi không chọn lưu trú tại thành phố mà lưu trú tại một bản du lịch cộng đồng nổi tiếng - bản Lác (huyện Mai Châu). Bản này cách TP. Hòa Bình chừng hơn 1 giờ rưỡi chạy xe. Đường Tây Bắc nơi nào cũng quanh co đèo dốc. Ở đây chủ yếu là bà con đồng bào Thái. Bà con thường gắn với vùng núi nhưng người Thái thường chọn ở những vùng thấp, gần các thung lũng bằng phẳng nên người Thái rất giỏi canh tác lúa nước (so với các dân tộc vùng cao khác). Kiến trúc nhà sàn người Thái (hai mái, hai chái) vẫn còn gần như nguyên vẹn cho nên bản Lác sinh ra một “phối cảnh” rất đẹp – bản (nhà sàn) – cánh đồng lúa (xanh, vàng) – núi (rừng nguyên sinh). Tất nhiên, ở đây còn có nhiều thứ khác biệt như nếp sinh hoạt, trang phục, ẩm thực… Tôi biết du lịch ở đây phát triển khá mạnh vì khách đến đông; các loại dịch vụ như lưu trú, ăn uống, vui chơi, đi lại… khá chuyên nghiệp. Bản Lác là cái lõi còn chung quanh bản Lác còn nhiều bản khác nữa. Du lịch cứ thế mà lan tỏa. Dường như cả bản đều làm du lịch. Cho nên cả bản đều có tiền.

Tương tự, đến Lai Châu, tôi tìm đến bản du lịch cộng đồng khác là bản Sin Suối Hồ. Đây là một bản chủ yếu là người Mông hoa. Người Mông khác với người Thái là thường ở trên một độ cao hơn, gắn với núi rừng nhiều hơn. Cho nên các bản đều gắn với rừng (thường là rừng nguyên sinh và rất gần), với suối (thường hay có thác). Nhà trình tường cũng là một loại kiến trúc đặc sắc của người Mông. Thổ cẩm làm bằng vỏ cây lanh, thường sử dụng gam màu chủ đạo là màu đen, sinh ra một loại trang phục rất riêng của người Mông. Bản làng thì cheo leo sườn núi và người Mông rất thích trồng loại hoa đào, đến mùa đào nở hoa đã trang điểm cho vẻ đẹp của bản làng… Vì là vùng cao nên, thời tiết lạnh, Tây Bắc thường trồng các loại cây chịu lạnh tốt nên mùa hoa, hoa nở rất tập trung cũng là một đặc trưng khác nữa. Tôi được nghe câu chuyện về người dân không nhận vốn bất cứ một nhà đầu tư nào mà tất tần tật đều người dân bản địa tự đầu tư, tự làm. Cho nên mặc dù du lịch phát triển nhưng nó đạt độ “thuần khiết”.

Những điều tôi rút ra: muốn du lịch cộng đồng phát triển phải có những nét đặc trưng riêng. Ví dụ như có bản sắc văn hóa riêng; có cảnh quan gắn với thiên nhiên hoang sơ; có kiến trúc riêng; có trang phục riêng; có nét đặc trưng ẩm thực riêng… Chính cái riêng này mới thu hút người ta đến khám phá. Những lợi thế này được hỗ trợ bởi một thị trường du lịch Hà Nội rất phát triển và có độ lan tỏa cao.

Trở lại du lịch cộng đồng ở Huế. Có vẻ như du lịch thôn Dỗi không phát triển được là vì không (hoặc) ít có nét đặc trưng riêng? Nhưng A Roàng thì có thể có. A Roàng nằm ở độ cao không bằng Tây Bắc nhưng cũng cao khoảng 500m so với mực nước biển. Về đêm thường không khí mát dịu. A Roàng gần dãy Trường Sơn nên cảnh quan thiên nhiên đẹp; có nguồn nước khoáng nóng thiên nhiên; có thổ cẩm là dệt zèng; có ẩm thực đặc trưng vùng núi (ví dụ như các loại đồ nướng ăn với cơm nếp, thức uống thì có rượu đoác). Chừng ấy thế mạnh, nếu biết cách khai thác tốt thì khả năng phát triển du lịch cộng đồng ở A Roàng là điều trong tầm tay.

Bài: Nguyên Lê - Ảnh: Hoàng Hải
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho du lịch Việt Nam

Nghị quyết 26-NQ/TW Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam mở ra hướng phát triển mới cho du lịch Việt Nam, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị thông minh được xác định là những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị của toàn ngành.

Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho du lịch Việt Nam
Khơi thông các dự án du lịch sinh thái

Sau nhiều năm được chấp thuận chủ trương đầu tư, hai dự án Khu du lịch sinh thái (DLST) Đá Bạc và Thác Trượt vẫn chưa thể triển khai và bộc lộ nhiều bất cập trong công tác quản lý đầu tư, đất đai, bảo vệ tài nguyên. Đây cũng là những dự án mà Thanh tra TP. Huế kết luận có nhiều vi phạm. Bên cạnh khắc phục những sai phạm từ hai dự án, việc tháo gỡ khó khăn để triển khai các dự án DLST từ các khâu cũng cần được quan tâm hơn.

Khơi thông các dự án du lịch sinh thái
Nghị quyết 27-NQ/TW: Cơ hội định vị lại Huế trong bản đồ phát triển quốc gia

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới thể hiện chuyển đổi quan trọng trong tư duy: từ nhìn nền kinh tế qua ranh giới hành chính sang tổ chức một không gian quốc gia thống nhất; từ phát triển riêng lẻ từng địa phương sang các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị, hạ tầng và liên kết có khả năng cộng hưởng, lan tỏa.

Nghị quyết 27-NQ TW Cơ hội định vị lại Huế trong bản đồ phát triển quốc gia
Nghị quyết số 26-NQ/TW: 5 quan điểm đột phá phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

Nghị quyết 26-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định 5 quan điểm đột phá, tạo định hướng mới cho phát triển du lịch Việt Nam, trong đó trọng tâm là chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết số 26-NQ TW 5 quan điểm đột phá phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn

TIN MỚI

Return to top