ClockThứ Bảy, 11/07/2020 06:30

Về Huế tìm di sản ký ức của cha

HNN - Tôi sinh ra, lớn lên ở phố cổ Hà Nội, bén duyên và gắn bó với ngành văn hoá, di sản từ những năm 1970 đến nay. Với nghề với nghiệp, tôi đến Huế nhiều lần, kiếm tìm trong lịch sử và văn hóa, từ di sản thế giới đến di sản phi vật thể đại diện của nhân loại; từ cổ vật, bảo vật quốc gia đến di sản thông tin tư liệu; từ bảo tàng đến di tích; từ di sản của nhà nước đến di sản cộng đồng…, mới thấm đẫm kho tàng vô giá và vô tận này. Huế là niềm tự hào, kiêu hãnh của quốc gia, của người Huế, trong đó có tôi, và lần này tôi, tôi dành riêng về Huế để kiếm tìm di sản của người cha, của gia đình tôi.

Ảnh hưởng của Pháp với sự hiện đại hóa của văn hóa Việt Nam“Kinh đô Huế thế kỷ XIX”

Cụ Lê Tử Long và thân sinh Lê Huy Thiều

Tôi yêu Huế, say đắm văn hoá Huế bắt đầu từ giọng nói, lời ru của mẹ, từ những món ăn mẹ nấu mỗi ngày. Nay thì tôi còn nhớ thương cả sự khắt khe, bắt ne bắt nét của mẹ tôi với con cái, nhất là con gái mà sau này tôi mới thấu hiểu được sự trao truyền giá trị văn hoá đó. Mẹ tôi là người Huế, rặt Huế, tên cũng rất Huế: bà Mừng. Nhà ngoại ở An Cựu, bà ngoại bán vải ở chợ Đông Ba, còn ông ngoại làm ở Sở Công chánh Thừa Thiên Huế - nơi đó sau này là Bảo tàng Văn hoá Huế.

Tôi đau đáu với di sản xứ Huế đến lạ. Trong mỗi chuyến công tác vội vã đến Huế, tôi thường tự hỏi nhà mình, ông bà mình ở đâu? Cái gì còn đọng trong thành phố đầy ắp di sản này? Và cuối cùng tôi đã tìm ra ký ức về gia đình tôi, sự khởi nghiệp của cha tôi bắt đầu từ Huế. Những con đường miền Trung ông làm, ông đi và ngày nay đã trở thành con đường di sản ký ức…

Cha tôi người xứ Nghệ, từ năm 1922 đã lặn lội vào Huế để thi vào Trường Quốc Học nhưng không nộp được hồ sơ. Không nản chí, ông ra Hà Nội, ở trọ, học trường tư để thi vượt cấp và đỗ vào Trường Công chánh Đông Dương. Năm 1926, ông tốt nghiệp loại giỏi và được cử đến Sở Công chánh Thừa Thiên Huế. Từ đây, ông lại được điều động đến các chi nhánh Quảng Ngãi, Nha Trang, Phan Rang và cả Buôn Mê Thuột. Ngày 15/1/1929, Toàn quyền Đông Dương đã ký Nghị định về việc bổ nhiệm, thăng hạng cho 16 kỹ sư ngành Công chánh Đông Dương, trong đó có cha tôi: Lê Tử Long, kỹ sư hạng 3.

Từ Huế lần theo dấu vết của cha, tôi tìm ra được một số câu chuyện về nghề giao thông thời ấy, nhất là những tuyến đường miền Trung, như Mộ Đức - Ba Tơ, Phan Rang - Vĩnh Hảo, Phan Rang - Đà Lạt, Nha Trang - Buôn Mê Thuột; những cung đường khó khăn nhất như đèo Ngoạn Mục, từ Kronpha lên đèo Bellevue…; mối quan hệ giữa chủ Tây và người Việt, tầng lớp trí thức mới như cha tôi; mối quan hệ giữa những người chỉ đạo, tham gia thi công cầu đường, với phu làm đường trong đó có những người tù cộng sản.

Ở công trình từ Nha Trang lên Buôn Mê Thuột, cha tôi đã gặp những người tù chính trị, giúp đỡ họ thuốc men, nhu yếu phẩm và kết nối thông tin liên lạc. Ông đã được đọc cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc và bắt đầu nghĩ về một con đường đi khác… Năm 1932, cha tôi xin đổi việc để về gần quê. Ông chuyển sang làm hệ thống thuỷ lợi ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. “Năm 1937 hệ thống thuỷ lợi Bắc Nghệ An khánh thành long trọng. Có ông Bảo Đại, các quan Nam triều, Toàn quyền, Khâm sứ, Công sứ, Tỉnh trưởng đến dự. Thực chất là để tuyên truyền lấy lòng dân chứ thực ra hệ thống này chẳng to tát gì. Cũng bởi vì từ ngày Pháp thuộc nay mới có hệ thống thuỷ lợi này…”, cha tôi ghi lại.

Tháng 6/1945 hệ thống kênh đào Vinh - Thanh Hoá (kênh Nhà Lê) khánh thành, công trình do Hoàng thân Souphanouvong (Vương quốc Lào) phụ trách. Nhân chuyến công tác ở Thanh Hoá tháng 7/1945, cha tôi và ông đã trao đổi về phong trào Việt Minh và việc thời thế sẽ thay đổi. Tháng 8/1945, Hoàng thân về nước để chuẩn bị tham gia phong trào cách mạng Lào, cha tôi quyết định rẽ sang một con đường khác sau ngót 20 năm làm việc cho chính quyền thuộc địa, điều đó quyết định tương lai của chúng tôi, con đường hạnh phúc của đại gia đình 4 thế hệ con cháu của ông hôm nay. 25 năm sau đó là thời kỳ ông đóng góp trí tuệ, sức lực cho những công trình giao thông lớn của đất nước. Thời chống Mỹ, những cán bộ lãnh đạo có nghề như ông là rất hiếm, được quý trọng. Đảng, Nhà nước đã giữ ông lại làm việc cho đến năm 1970, khi ông đã 67 tuổi, vẫn đảm nhiệm vai trò Cục Phó phụ trách kỹ thuật của Cục Kiến thiết cơ bản, Bộ Giao thông Vận tải.

Cuộc đời, sự thành công của cha tôi không thể thiếu bóng dáng của một người phụ nữ Huế. Ở Huế, ông đã gặp mẹ tôi và kết duyên năm 1932. Bà vừa là nội tướng vừa là tri kỷ của ông. Đâu đó trong con người đậm chất Nghệ của ông, như đã tích hợp những nét đặc sắc trong văn hoá Huế. Ông ăn mặc lịch lãm, nói năng nhỏ nhẹ, ý tứ sâu xa, tính cách khiêm nhường, ứng xử tinh tế. Ở ông có một sự cuốn hút, lãng mạn trong phong thái rất là Huế, và đồng thời cũng rất Tây. Văn hoá là thế.

Bởi nghĩ rằng gia đình là tế bào của xã hội, lịch sử mỗi gia đình gắn bó mật thiết và phản ánh lịch sử xã hội, tôi gom góp những mảnh vụn ký ức thành câu chuyện di sản để cùng sẻ chia với mọi người… Trên những chặng đường dài đó, may mắn biết bao, tôi đã nhận được có sự chung tay của những người bạn, như đồng nghiệp trẻ Trần Đình Hằng ở Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế, góp nhặt đầy đam mê một vài tài liệu quý từ thời Pháp thuộc, để phác họa rõ nét thêm vài chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của cha tôi. Từ đó, cùng với hồi ký, lý lịch của ông, tôi đã chắp nối lại thành câu chuyện ký ức rõ nét hơn về cha tôi, một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng ngành Công chánh - Giao thông công chánh Việt Nam, một câu chuyện đẹp của đất nước buổi tiếp xúc, giao lưu văn hóa văn minh Việt - Pháp đầu thế kỷ XX.

TS. LÊ THỊ MINH LÝ

(Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa)

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Lặng thầm kể chuyện lịch sử

Tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế, chị Cao Hoàng Ngọc Anh (sinh 1991) là một trong những thuyết minh viên vừa vinh dự được Chủ tịch UBND thành phố Huế trao tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2025. Với chị, phần thưởng lớn nhất là những ánh mắt chăm chú lắng nghe, những cái gật đầu hay lời cảm ơn mộc mạc của khách tham quan sau mỗi buổi thuyết minh.

Lặng thầm kể chuyện lịch sử
Từ bản lĩnh vượt khó đến những quyết sách lịch sử

Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, nhiều thách thức chưa từng có tiền lệ. Bằng bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới và những quyết sách chiến lược đúng đắn, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử.

Từ bản lĩnh vượt khó đến những quyết sách lịch sử
Khi văn hóa thành sức mạnh dẫn đường trong kỷ nguyên vươn mình

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt, định hướng phát triển đất nước đến năm 2030 và mở ra “kỷ nguyên vươn mình”. Với TP. Huế - đô thị di sản giàu chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa - Đại hội càng gợi nhiều kỳ vọng: cụ thể hóa tư duy phát triển mới thành động lực địa phương, phát huy văn hóa và con người theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW.

Khi văn hóa thành sức mạnh dẫn đường trong kỷ nguyên vươn mình

TIN MỚI

Return to top