 |
| Mẹ ru con, như ru cả núi rừng vào giấc ngủ bình yên |
Giai điệu từ đại ngàn
“Ngày nhỏ tôi đã nghe cha mẹ, già làng hát. Thuở ấy chỉ thấy hay rồi hát theo, nhưng càng lớn càng thấy đó là máu thịt của dân tộc mình”, nghệ nhân Lê Văn Trình, người Tà Ôi ở xã A Lưới 4 chậm rãi hồi tưởng. Từ niềm say mê thuở thiếu thời, ông bắt đầu đi khắp bản làng sưu tầm, ghi chép lại các điệu hát. Gần nửa thế kỷ qua, ông đã tích lũy được một kho tàng dân ca phong phú, truyền dạy cho lớp trẻ.
Ông bảo, dân ca ở vùng cao A Lưới đa dạng như chính cuộc sống nơi đây. Người Tà Ôi có Ân to’ch, Ni nơơi, Câl tieel, Kâr lơi… Người Cơ Tu có Nha Nhim, lúc thì là lời tự sự của người phụ nữ khi đi rừng băng suối, lúc là khúc đối đáp duyên dáng của trai gái. Người Pa Cô thì xem Cha chấp là điệu hát tiêu biểu, có thể cất lên ở bất cứ đâu, một mình hay tập thể, với lời ca ví von, vui tươi.
Trong ánh lửa bập bùng, già làng Hồ Văn Hạnh, xã A Lưới 1 cũng cất giọng Cha chấp sang sảng: “Ta hát cho con cháu nghe, hát cho núi rừng nghe, để tình yêu quê hương còn mãi…”. Ở tuổi ngoài bảy mươi, ông vẫn giữ chất giọng khỏe khoắn, từng chữ như vọng lại từ đại ngàn. Già nói: “Ngày xưa không có đài, không có tivi, dân ca là sợi dây gắn kết cả làng. Giờ tôi chỉ mong con cháu hát tiếp, để tiếng hát không mất đi”.
Nhà nghiên cứu văn hóa - Nghệ nhân ưu tú Tar Dư Tư, xã A Lưới 2 chia sẻ: “Tôi lớn lên trong tiếng ru của mẹ, của bà. Những câu hát ru con, những điệu Cha chấp, Xiềng, Kâr lơi đã nuôi dưỡng tâm hồn cả một thế hệ. Nếu không ghi lại, không dạy lại, thì chúng sẽ trôi theo thời gian”. Nói rồi, bà khe khẽ cất lên một đoạn hát ru Pa Cô: “Ngủ đi con, mong ngày con khôn lớn, nhanh nhẹn như chim A Vang, khỏe mạnh như con A Mur…”. Âm điệu dịu dàng, tha thiết như vòng tay ôm ấp, khiến cả gian nhà sàn lắng đọng trong lời ca…
Đưa dân ca vào sản phẩm du lịch
Trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, dễ bắt gặp hình ảnh nghệ nhân dạy cho lớp trẻ từng nhịp hát, nhịp chiêng. Học trò chăm chú, ánh mắt rạng rỡ. Không khí ấy cho thấy rằng dân ca vẫn sống trong lòng cộng đồng, chứ không phải chỉ còn trong ký ức.
“Chỉ khi con cháu biết hát, biết múa, biết chơi nhạc cụ thì dân ca mới thật sự được bảo tồn”, nghệ nhân Lê Văn Trình khẳng định. Với ông, dân ca trước hết phải hiện diện trong đời sống thường ngày, từ công việc đồng áng đến những buổi quây quần bên bếp lửa.
Nhà nghiên cứu văn hóa - Nghệ nhân ưu tú Tar Dư Tư, xã A Lưới 2 cho biết: “Dân ca cần bước ra khỏi bản làng, để nhiều người cùng biết. Trong đó, gắn dân ca với du lịch là cách làm hiệu quả nhất. Du khách đến A Lưới có thể nghe hát, xem múa, thử gõ trống, thổi khèn, thậm chí học vài câu phổ biến. Khi ấy, dân ca không còn là kỷ niệm mà trở thành trải nghiệm sống động. Tôi mong địa phương xây dựng thêm sân khấu nhỏ tại các điểm du lịch cộng đồng, nơi người dân vừa biểu diễn vừa giao lưu với khách”.
Thực tế, trong các lễ hội văn hóa của A Lưới, những tiết mục dân ca, dân vũ đã trở thành điểm nhấn. Tiếng chiêng ngân vang, trống rộn ràng, điệu múa khỏe khoắn, lời hát mộc mạc để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách. Nhiều người rời A Lưới vẫn nhớ mãi tiếng hát ru con bên bếp lửa, coi đó là kỷ niệm đặc biệt trong hành trình về với Trường Sơn.
Theo già làng Hồ Văn Hạnh, chính lớp trẻ mới là “cầu nối” để dân ca đi xa: “Tôi già rồi, hát được bao lâu nữa. Nhưng nếu con cháu còn hát, khách còn nghe, thì những làn điệu dân ca, những lời hát ru của bà, của mẹ sẽ không bao giờ mất. Đó là cách để giữ núi rừng, giữ bản sắc cho mai sau”.
Giữa đại ngàn hôm nay, lời ru của mẹ vẫn vang vọng, nuôi dưỡng tâm hồn con trẻ và trở thành bản hòa âm vang vọng của núi rừng. Những giai điệu ấy sẽ còn tiếp tục lan xa, mang theo tình yêu, niềm tự hào và bản sắc của con người A Lưới.