ClockThứ Năm, 12/02/2026 15:07

Từ chiếc bánh aquat, chạm vào hương tết Trường Sơn

HNN - Đã nhiều lần ăn bánh aquat, đã quen với mùi thơm nếp than hòa quyện lá đót, nhưng phải đến những ngày cận tết cổ truyền năm Bính Ngọ, tôi mới thật sự được "chạm tay" vào từng công đoạn làm nên chiếc bánh sừng trâu mộc mạc ấy…

Âm vang từ một mùa lễ hộiLễ hội A Pier - khúc hát trỉa lúaLễ cưới truyền thống của người Pa Cô

 Phụ nữ Pa Cô chuẩn bị lá đót và nếp than bắt đầu công đoạn gói bánh aquat

Những ngày cuối năm, khi mưa rừng Trường Sơn còn vương trên các triền núi và cái lạnh se sắt bao trùm thung lũng A Lưới, tôi lại có dịp trở lại vùng cao này.

A Lưới những ngày giáp Tết rộn ràng theo cách riêng. Chợ A Lưới họp từ sớm, người đi chợ nói cười râm ran giữa làn sương mỏng. Tôi theo chị Hồ Thị Thơm, người Pa Cô sống ở xã A Lưới 2, vào chợ mua nếp. Gian hàng nằm gọn một góc, với nhiều loại nếp khác nhau, có nếp trắng, nếp đỏ, loại hạt dài, có loại hạt tròn… Chị Thơm vừa lựa, vừa giải thích rằng để làm bánh aquat thì chỉ có một lựa chọn, đó là nếp than. Đó là thứ nếp mà bà con vùng cao vẫn nói vui là loại nếp “ăn một lần là nhớ”. Hạt nếp nhỏ, sẫm màu, khi nấu lên cho vị bùi và mùi thơm rất riêng. Chọn sai nếp thì bánh vẫn thành hình, nhưng hương vị sẽ khác đi nhiều.

Trưa đến, trong gian nhà sàn đã rộn ràng tiếng cười nói. Nếp than được cho ra mẹt, để ráo. Lá đót lau khô, xếp gọn bên cạnh. Cách gói bánh nhìn qua tưởng đơn giản nhưng khi làm mới thấy cần sự khéo léo. Lá được cuốn thành hình phễu nhỏ, nếp sống cho vào từng chút, tay cuốn đều để tạo nên hình tam giác cân, hai đầu nhọn giống chiếc sừng trâu. Khi bánh đã vào dáng, người gói không buộc riêng từng chiếc mà áp hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng dây rừng chẻ mỏng buộc cố định thành từng cặp. Vì cách buộc ấy, trong dân gian còn gọi bánh aquat là “bánh tình yêu”, bởi chiếc bánh nào cũng “có đôi, có cặp”, đi cùng nhau từ lúc gói cho đến khi chín mềm trên bếp lửa.

Bà Ta Dưr Tư, người nghiên cứu văn hóa dân gian, xã A Lưới 2, nhìn tôi làm bánh rồi chậm rãi chia sẻ: “Bánh aquat gắn liền với đời sống tinh thần của nhiều cộng đồng trên dãy Trường Sơn. Từ những lễ hội lớn đến ngày Tết, bánh luôn hiện diện như một món quà của núi rừng. Loại bánh này thường được ăn cùng những món đặc trưng của địa phương như cá nướng, gà nướng và nhiều món cá suối. Khi ăn kèm, vị bùi của nếp than và mùi thơm lá đót hòa quyện, tạo nên một bữa ăn trọn vẹn của người vùng cao”.

Quy trình làm aquat đòi hỏi sự kiên nhẫn. Nếp sau khi gói sống trong lá đót không đem luộc ngay mà phải ngâm trong nước trong khoảng 24 giờ. Khoảng thời gian ấy, người vùng cao vẫn gọi là lúc bánh “ngấm rừng”. Nước thấm dần vào từng hạt nếp, để khi luộc, bánh chín đều từ trong ra ngoài. Sau đó, bánh được luộc liên tục từ 3 đến 4 tiếng trên bếp củi. Người nấu nhìn màu lá đót chuyển sẫm để đoán bánh đã mềm hay chưa. Mỗi công đoạn đều dựa vào kinh nghiệm truyền lại qua nhiều thế hệ, ít khi cần đến đồng hồ hay công thức rành rọt.

Trong lúc chờ bánh chín, câu chuyện quanh bếp lửa cứ thế nối dài. Những cái Tết xưa, khi cả bản quây quần gói aquat, tiếng cười vang trong đêm lạnh. Chị Hồ Thị Thơm kể, cứ mỗi dịp Tết đến, bà con vùng cao lại ngồi sát bên nhau làm bánh aquat. Người lớn gói, trẻ con ngồi xem, học cách xếp lá, buộc dây. Những buổi như vậy vừa là dịp chuẩn bị thức ăn, vừa là lúc truyền dạy cho con cháu nếp sinh hoạt của bản làng.

Khi nồi bánh được vớt xuống, mùi thơm lan khắp gian nhà. Bóc lớp lá đót từ đầu nhọn, chiếc bánh lộ ra với màu tím sẫm đặc trưng của nếp than. Cắn một miếng, vị bùi lan dần, mùi lá rừng thoang thoảng. Tôi chợt nhận ra, cảm giác này khác hẳn những lần trước đây chỉ ăn bánh đã làm sẵn. Việc tự tay gói, chờ đợi, rồi thưởng thức khiến chiếc bánh trở nên gần gũi hơn.

Aquat không cầu kỳ, nhưng chứa đựng trong đó nhịp sống của núi rừng, sự gắn bó của con người với thiên nhiên.

Bài, ảnh: Bạch Châu
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Lãnh đạo thành phố dâng hương, dâng hoa tưởng niệm tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Đường 9

Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), sáng 24/7, Đoàn đại biểu UBND thành phố do đồng chí Nguyễn Chí Tài, UVTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố làm trưởng đoàn đã tổ chức lễ viếng, đặt vòng hoa và dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ (NTLS) quốc gia Trường Sơn, NTLS quốc gia Đường 9.

Lãnh đạo thành phố dâng hương, dâng hoa tưởng niệm tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Đường 9
Tưởng nhớ, tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Quảng Trị

Nhân kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), ngày 22/7, Đoàn Đại biểu nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo, dân tộc tiêu biểu TP. Huế năm 2025, do UVTV Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Thị Ái Vân làm trưởng đoàn đã đến thăm các địa điểm tưởng nhớ, tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị.

Tưởng nhớ, tri ân các Anh hùng liệt sĩ tại Quảng Trị
Nhớ mùa mưa 1972

Năm nay, mới tháng 6 âm lịch nhưng mưa nhiều và lớn quá mức. Một số khu vực ở thành phố Huế ghi nhận lượng mưa kỷ lục. Chợt nhớ mùa mưa năm 1972 ở phía tây thành phố Huế khi chúng tôi mới chân ướt chân ráo tới chiến trường này.

Nhớ mùa mưa 1972
Những thanh âm giữa đại ngàn Trường Sơn
Thanh âm giữa đại ngàn Trường Sơn - Kỳ 1: Thanh âm kể chuyện núi rừng

Những bản hòa tấu, những điệu múa mềm mại hay những nhạc cụ thô mộc nhưng tràn đầy sức sống..., tất cả cùng nhau kể lại câu chuyện về cội nguồn, về bản sắc văn hóa và niềm tự hào dân tộc của những con người gắn bó trọn đời với núi rừng Trường Sơn.

Thanh âm giữa đại ngàn Trường Sơn - Kỳ 1 Thanh âm kể chuyện núi rừng
Lễ cưới truyền thống của người Pa Cô

Cưới xin là một trong những nghi lễ quan trọng trong đời sống của đồng bào Pa Cô (A Lưới). Để chính thức thành vợ thành chồng, đôi trai gái phải trải qua nhiều nghi thức với những phong tục giàu bản sắc.

Lễ cưới truyền thống của người Pa Cô

TIN MỚI

Return to top