ClockThứ Hai, 03/02/2014 05:31

Cây nêu ngày Tết

HNN.VN - Mở đầu bài thơ “Tết của mẹ tôi”, thi sĩ Nguyễn Bính viết: “Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều / Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều / Sân gạch tường vôi người quét lại / Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu”.

Đoạn thơ gợi lên một không gian của những ngày chuẩn bị đón Tết trong đời sống tinh thần của người Việt. Đặc biệt, có câu thơ nhắc đến tục trồng nêu ngày Tết, một nghi thức có ý nghĩa trong đời sống tâm thức của người Việt từ xa xưa, được hình thành, bảo tồn, kế thừa và phát huy ở nhiều dạng thức khác nhau. Đây là nghi thức xuất hiện phổ biến trong đời sống dân gian, trong đời sống Phật giáo và trong đời sống cung đình thời Nguyễn.

 

Dựng nêu trong dân gian xưa

Theo huyền sử truyền tụng trong dân gian thì nguồn gốc lễ dựng nêu thiên về Phật giáo. Ngày xưa quỷ thường chiếm đất đai của con người, Phật phải ra tay giúp đỡ. Với thần thông vô biên, Phật đã đẩy lùi được ma quỷ, nhưng lại khiến cho quỷ không có đất kiếm ăn, nên phải cầu khẩn Phật cho biết chỗ đất nào không phải là của Phật. Phật mới bảo ở đâu có chuông, khánh, phướn là đất của Phật.

Vì thế Phật mới dạy dân dựng cây tre cao, trên đó có treo chuông, khánh, phướn trồng ngay trước nhà, đồng thời rải vôi đánh dấu, vẽ hình cung tên làm giới hạn. Cây tre càng cao bóng tỏa càng rộng, quỷ càng xa lánh. Treo khánh hoặc chuông trên cây nêu để mỗi lần có gió thì phát ra tiếng tất làm quỷ sợ hãi. Trong dân gian, người ta cũng bày biện bàn thờ để nghinh thần, ngoài sọt tre đựng cau trầu vàng bạc, còn phướn đỏ, lung tung hoặc treo lá dứa, lá đa. Rồi vạch vôi làm ranh giới cách nêu vài mươi thước, vẽ cung tên nhắm vào hướng Quỷ vương. Có nhà còn treo bùa đào, lá đùng đình để trừ ma.

Miền Bắc nước ta ngày trước dựng nêu vào ngày 23 tháng Chạp, vì sáng 23 có lệ tiễn ông Táo về trời. Từ ngày này vắng mặt Táo quân trong nhà, nhân đó ma quỷ có cơ hội quấy phá. Dựng nêu để ngăn chặn ma quỷ, và cây nêu dựng ngay trước nhà cho đến ngày mồng 7 tháng Giêng.

Thướng tiêu (dựng nêu) trong Hoàng cung ngày trước

Trong đời sống cung đình ở Huế, trước ngày Tết người ta làm lễ “Thướng tiêu” tức dựng nêu để báo hiệu ngày Tết đã tới. Chữ Tiêu () trong Thướng tiêu (上標) có nghĩa là “ngọn cây” nơi cao nhất dễ nhìn thấy. Vì ở cao nên biến nghĩa “nêu lên” cho mọi người nhìn thấy rõ nên về sau có nghĩa là “nhãn hiệu” (Từ ngữ tiếng Hán Việt như Tiêu đề, Chỉ tiêu đều mang ý nghĩa “nêu lên, đưa lên cao”. Trước ngày Tết người ta làm lễ Thướng tiêu tức lễ “lên nêu” để đánh dấu cho biết ngày Tết đã tới. Mục đích ban đầu để mừng ngày Tết, rồi sau đó cúng những Thần linh để phù hộ cho người nhà được bình an, cầu tổ tiên phù hộ cho con cháu. Triều đình dựng nêu cũng để cầu cho mưa thuận gió hòa, cho dân chúng làm ăn thuận lợi.

Trong “Ngự chế thi”, vua Minh Mạng cũng làm một bài thơ đề cập đến cây nêu: Xuân thiên hà vị noãn/ Liên nhật chỉ thiêm hàn/ Lãnh vũ lâm kim thắng/ Thê phong hạ trúc can (nghĩa là Trời xuân sao chưa ấm/ Ngày tiếp ngày lạnh se/ Đồng lạnh thua mưa rét/ Gió buốt phủ nêu tre).

Trong bài thơ này, nhà vua cũng đã giải thích khá chi tiết về lễ dựng nêu. Theo cổ tục đến ngày 25 tháng Chạp là ngày trừ nhật (除日) không tiếp nhận văn thư, ngày này làm lễ khóa ấn (quan bửu), nghĩa là cất ấn triện, không còn đóng dấu nữa, rồi dựng nêu (Thướng tiêu). Đó là nghi thức dùng một cây tre trên đó lấy tranh kết bốn dọc năm ngang (tức cái lung tung), rồi treo một cái sọt bên trong đựng giấy tiền, cau trầu, bùa đào (ghi tên Thần linh)…để cúng Thần. Trên bùa đào ngoài việc đề tên Thần, còn dùng để đề câu đối Tết, áp dụng theo lối đề câu đối của Mạnh Sưởng đời Tống ở Trung Hoa, gọi là “đề đào phù” chẳng hạn như “Tân niên nạp dư khánh / Gia tiết hiệu trường xuân” (nghĩa là Năm mới nhiều điềm tốt / Tiết đẹp gọi xuân lành).

Song bên cạnh đó, chính vua Minh Mạng cũng quan niệm rằng, đã là bậc đế vương phải theo mạnh mẽ của quẻ Càn tượng Trời không lúc nào ngưng nghỉ. Vả lại sớ chương không lúc nào không có, nếu cất ấn lỡ có việc quân cơ quan trọng thì rất khó xử lý, rất bất tiện cho hoạt động hành chính. Theo ý chỉ của vua Minh Mạng, những lần lên nêu, triều đình nhà Nguyễn chỉ chọn một số ấn triện không quan trọng để bỏ vào sọt treo lên nêu cho có tính cách tượng trưng. Đến ngày mồng bảy tháng Giêng mới mở ấn (Khai ấn) và hạ nêu (Há tiêu) rồi tiễn Thần (tống Thần), gọi là mở đầu năm mới.

Nhưng từ thời Tự Đức, triều đình quy định đến ngày 30 tháng Chạp mới dựng nêu, tức thời gian nghỉ Tết ngắn lại. Khi cây nêu được dựng lên chính là lúc đánh dấu thời gian nghỉ Tết đã đến.

Theo điển lệ, khi thấy cây nêu lấp ló trên những bức tường thành của chốn hoàng cung xưa, các nhà dân mới bắt đầu tiến hành dựng nêu ăn Tết cúng Thần cùng tổ tiên và vạch vôi trừ ma quỷ. Ngày giờ dựng nêu của dân chúng sau định lệ của triều đình. Thơ của Tú Xương cũng có câu phản ánh sự quy định này: 

Xuân từ trong ấy mới ban ra

Xuân chẳng riêng ai khắp mọi nhà”.

Cây nêu dựng lên báo hiệu Tết đến. Nguyễn Khuyến lúc cáo lão về hưu, mắt lòa không nhìn thấy rõ đã vấp vào nêu dựng tối 30 tháng chạp: “Tối ba mươi nghe pháo Giao thừa à à Tết / Sáng mồng một vấp nêu Nguyên đán ờ ờ Xuân”.

Phục dựng lễ dựng nêu tại chốn Hoàng cung ngày nay

Lễ dựng nêu tại Hoàng cung Huế sẽ được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tiếp tục phục dựng vào sáng 25 tháng Chạp. Trên cơ sở chất liệu cung đình, đơn vị đã xây dựng một kịch bản có tính nghi thức về dựng nêu trong chốn Hoàng cung, nhằm tạo nên một sinh hoạt có tính điểm nhấn, đồng thời tạo ra không khí vui tươi vào dịp mở đầu Tết Nguyên đán.

Từ cửa Hiển Nhơn, nghi thức rước nêu được tổ chức trang trọng. 10 lính vác nêu trong trang phục chỉnh tề. Đội rước nêu khởi hành trong âm thanh của tiểu nhạc tiến vào Hoàng cung, đến cửa chính của khu vực Thế Miếu và tiến hành nghi thức dựng nêu. Tại Thế Miếu, hương án, lễ phẩm cùng đội Đại nhạc và các bồi tự đã chờ sẵn. Nghi thức thướng nêu (tức là dựng nêu) được cử hành nghiêm trang. Các nghi thức lễ như nghinh thần, khánh hạ được cử hành trong âm thanh của Đại nhạc. Sau phần lễ, 10 lính vác nêu đã tiến hành dựng nêu lên.

Sau Thế Miếu, lễ dựng nêu cũng sẽ được tổ chức tại nhiều điểm di tích khác trong Quần thể Di tích Cố đô Huế nhưng với quy mô đơn giản hơn, diễn ra từ ngày 28 tháng Chạp đến 30 Tết. Du khách và người dân đến với di tích Cố đô Huế những ngày này sẽ được chứng kiến một nét đẹp văn hóa của người Việt đang được duy trì và tiếp nối trong đời sống hôm nay.

Hải Trung
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Trải nghiệm di sản bằng nhiều giác quan

Không gian di sản ở Đại Nội Huế đang được kể lại bằng một ngôn ngữ mới - ngôn ngữ của công nghệ. Tại Phủ Nội Vụ, những câu chuyện xưa không chỉ để ngắm nhìn, mà còn để chạm vào, lắng nghe và trải nghiệm, mở ra một cách tiếp cận nhẹ nhàng, giàu cảm xúc với di sản Cố đô.

Trải nghiệm di sản bằng nhiều giác quan
Hội Thơ Xứ Huế nhìn lại một năm hoạt động

Sáng 18/1, Hội Thơ Xứ Huế đã tổ chức chương trình tổng kết hoạt động Hội năm 2025 và ra mắt thi phẩm “Về miền Hương Ngự”. Đây là dịp nhìn lại chặng đường hoạt động trong năm qua, đồng thời giới thiệu đến công chúng tuyển tập thơ mới, là kết quả từ nhiều hoạt động sáng tác, giao lưu thơ ca sôi nổi của Hội.

Hội Thơ Xứ Huế nhìn lại một năm hoạt động
“Cậu ăn bún chi hè?”

Quán bún nép vào mái hiên nhà, che thêm tấm bạt nilon, hai múi dây cột vào hàng rào. Ngôi nhà ở trên con đường nhỏ, nằm khuất sau những tòa nhà, cây cối nhiều che khuất cái quán nhỏ.

“Cậu ăn bún chi hè ”
Qua miền phủ đệ

Sau nhiều năm theo đuổi nghiên cứu phủ đệ, những ngày đầu năm 2026, TS. Trần Văn Dũng - Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Dân gian TP. Huế, hiện đang công tác tại Phòng Quản lý Di sản văn hóa thuộc Sở Văn hóa và Thể thao TP. Huế, vừa cho ra mắt cuốn sách “Phủ đệ xứ Huế - Vàng son một thuở” (NXB Khoa học xã hội).

Qua miền phủ đệ
Lối đi khó của Nguyễn Thống Nhất

Tôi biết Nguyễn Thống Nhất khi bạn ấy còn là sinh viên Trường Đại học Sư phạm Huế và là một cây thơ trẻ của tập san Áo Trắng. Sau này, ít thấy những bài thơ Nguyễn Thống Nhất xuất hiện trên những tờ báo. Rồi một hôm, bạn ấy nhắn tin nói chuyện là đang dịch những truyện ngắn của Nhật Bản... Không lâu sau đó, những truyện ngắn Nhật Bản do Nguyễn Thống Nhất chuyển ngữ đã được đăng trên một số báo và tạp chí từ Bắc chí Nam. Và đến bây giờ, dịch giả Nguyễn Thống Nhất đã có 2 tác phẩm dịch từ văn học Nhật Bản, đó là tuyển tập truyện ngắn “Con mèo đen” và tiểu thuyết “Người đàn ông ấy”.

Lối đi khó của Nguyễn Thống Nhất

TIN MỚI

Return to top