- Cậu ăn bún chi?
- Dạ, con ăn bún bò chả.
Quán bún nép vào mái hiên nhà, che thêm tấm bạt nilon, hai múi dây cột vào hàng rào. Ngôi nhà ở trên con đường nhỏ, nằm khuất sau những tòa nhà, cây cối nhiều che khuất cái quán nhỏ.
Nồi bún cổ tròn, bụng nở rộng, ngọn lửa hồng vừa đủ để giữ nồi nước dùng luôn nóng và đủ nhiệt độ để bốc hơi cái mùi thơm đặc trưng của bún bò Huế, mùi sả và mùi ruốc. Không cần bảng hiệu, mùi thơm nồi nước bún bay khắp cả con đường là một bảng hiệu không lời. Sức quyến rũ đến từ sự chân thật.
Đã lâu lắm rồi anh không còn được nghe câu hỏi quen thuộc “Cậu ăn bún chi?” của mạ. Hồi ấy, mạ vừa nghỉ việc theo chế độ tinh giản biên chế, đang loay hoay kiếm việc làm để nuôi đàn con đông đúc thì người bà con ở miền Nam ra chơi, ghé thăm nhà: “Sao chị không nấu bún bán, nhà mình có mái hiên, lại ở mặt tiền đường lộ thế này, chị nấu bún bán đi chị”.
Thế là từ đó, mạ dậy từ lúc 4 giờ sáng nhen bếp lửa, đặt lên đó nồi nước lớn rồi lật đật đi lấy thịt heo. Mạ đi lấy thịt heo tận lò mổ để vừa có thịt tươi, vừa được rẻ hơn vài đồng so với mua ở chợ. Huế những ngày mùa đông, có ngày mạ ngủ quên, dậy thì trời đã sáng tỏ, mạ quýnh quáng, vội vàng làm đổ cả thẩu tương ớt. Bán hàng ăn sáng chỉ được vào đầu buổi, nếu qua giờ ăn sáng, mọi người đi làm, con nít đi học hết thì bán chậm rì rì. Trưa ấy cả nhà được ăn cơm với nước bún.
Hôm sau anh tình nguyện đi lấy thịt giúp mạ. Anh đi thật nhanh rồi về học bài. Lúc ấy anh đang học thi tốt nghiệp. Mạ không cho nhưng anh hứa với mạ là vẫn ôn bài kịp.
Thấm thoắt thế mà đã ba chục năm trôi qua. Mạ giờ đã thong thả ở miền trên cao xa ấy. Anh cũng đã thành đạt ở xứ người. Mỗi lần anh về Huế, sáng nào cũng nhất quyết đi ăn bún, mà chỉ ăn bún vỉa hè hoặc mái hiên nhà.
Sáng nay anh nghe lại câu nói quen thuộc, câu nói nhẹ nhàng hiền hậu xuyên qua làn khói mỏng của bếp củi, câu nói không phải của người bán mà như là của người chị, người dì hỏi em trai mình, đầy thân thương và chăm sóc. Trong giây lát anh sững người, đã bao lần anh về Huế, đi ăn rất nhiều quán bún, hôm nay mới nghe lại đúng câu hỏi mà ngày trước mạ anh thường hay nói.
Mỗi lần anh về thăm nhà thường ngồi ngắm chiếc phản nhỏ mạ hay nằm, ngắm cái nồi nấu bún như một vật gia bảo của một thời gian nan mấy mạ con đùm bọc nhau mà đi lên. Với đôi bàn tay tảo tần của mạ, mấy anh em của anh đều được học chữ, học nghề đàng hoàng, rồi đi làm, lập gia đình và cái nồi bụng tròn vẫn được cất giữ kỹ càng. Đất Huế quê hương anh, bún bò ban đầu là món ăn được nấu trong gia đình, rồi sau phát triển trở thành một nghề mưu sinh của nhiều bà mạ, bà chị Huế. Nhờ nồi bún mà nhiều bà mạ nuôi sống gia đình, con cái học hành, lo việc hiếu hỷ nội ngoại hai bên, bà con lối xóm đàng hoàng.
Sáng nay nghe lại câu hỏi “Cậu ăn bún chi hè?”, tự nhiên anh thấy được chăm sóc thân tình, như thấy đằng sau nồi bún của chị là hình bóng của mạ anh năm nào. Cuộc sống lăn lộn ở xứ người làm anh quen với sự sòng phẳng “tiền trao cháo múc”. Rõ ràng vậy là tốt nhưng nếu thêm một chút tình cảm chân thành thì sẽ ấm áp và nhớ nhau lâu dài hơn. Anh là một chuyên gia về công nghệ, công việc của anh là những câu lệnh, chỉ có một kết quả và lạnh lùng. Về Huế, đi ăn tô bún bò anh được một bà chị bán hàng nhỏ trao một món quà tình cảm quý giá, mà anh biết máy móc sẽ không thể nào có được. Làm gì có cái máy nào vừa hỏi anh, mắt vừa nhấp nháy vì khói bếp; có cái máy nào vừa nghe “câu lệnh” xong lại nở nụ cười hiền lành, ấm áp được. Học trò anh từng lo lắng thế giới AI đang phát triển mạnh và con người phải làm sao, anh bảo rằng, thì là con người vẫn cứ yêu thương nhau mà sống thôi, máy không thể yêu thương thay thế con người được nên đừng lo.
Mà có cái máy nào thay thế cho nổi cả một nền văn hóa, một nền giáo dục, nhỏ nhẹ như nét văn hóa tôn trọng, lịch sự với người ăn bún của một bà mạ, một bà chị, bà dì người Huế qua câu hỏi “Cậu ăn bún chi hè?”.