ClockThứ Năm, 04/04/2024 05:48

Đô thị Huế hiện đại & hành trình phát triển - Kỳ 2: Đi tìm mô hình phù hợp

HNN - Từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến ngày giải phóng 26/3/1975, Huế liên tục có sự thay đổi mô hình, từ thành phố, đô thị và cuối cùng quay trở lại là thị xã Huế.

Đô thị Huế hiện đại & hành trình phát triển - Kỳ 1: Thành phố bên bờ sông HươngMở không gian, tạo động lực phát triển - Kỳ 1: Hiến kế cho quy hoạchTìm lối đi riêng cho du lịch phố cổ

 Ghe thuyền tụ tập gần chợ Đông Ba vào năm 1967. Ảnh: Tư liệu

Một thời, thành phố Thuận Hóa

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, phủ Thừa Thiên mang tên tỉnh Nguyễn Tri Phương được hơn 1 tháng, sau đó trở lại tên gọi tỉnh Thừa Thiên. Bấy giờ tỉnh Thừa Thiên có 6 huyện và thành phố Huế. Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt Huế là thị xã và sau đó, thành phố còn có tên Thuận Hóa, trực thuộc Trung Kỳ, gồm có 8 khu phố. Khu phố 1 và 2 gồm toàn bộ khu vực Thành Nội. Khu vực 3 gồm khu vực xung quanh Kinh thành. Khu vực Bãi Dâu là khu phố 4. Khu phố 5 từ Đập Đá xuống Vĩ Dạ và khu phố 6 từ Đập Đá lên vùng xung quanh sân vận động đến cầu An Cựu. Từ cầu Trường Tiền đến cầu Lòn là khu phố 7 và khu phố 8 là vùng vạn đò “thủy diện”.

Ngày 24/1/1946, Sắc lệnh số 11 của Chính phủ lâm thời, quy định Huế “tạm thời coi như là thị xã” và sau đó ngày 13/8/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 153, quy định sáp nhập Thành Nội và thành phố Huế. Năm 1947, thị xã Huế được tổ chức lại thành 3 quận và 8 khu phố. Quận 1 (vùng Nội Thành) gồm có 1 khu phố; quận 2 là vùng Tả ngạn sông Hương (bờ bắc) gồm  có 3 khu phố và quận 3 là vùng Hữu ngạn sông Hương (bờ nam) có 4 khu phố.   

Đầu năm 1947, trong bộ máy hành chính của chính quyền thực dân, thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên có 11 phường ngoại thành, gồm Phú Bình, Phú Nhuận, Phú Cát, Phú Ninh, Phú Hậu, Phú Thạnh, Phú Hòa, Phú Thọ, Phú Hội, Phú Vĩnh, Phú Mỹ và 10 phường nội thành (Kinh thành Huế), gồm Huệ An, Vĩnh An, Thuận Cát, Trung Hậu, Phú Nhơn, Tây Lộc, Tây Linh, Trung Tích, Thái Trạch, Tri Vụ. Ngày 21/5/1947, Hội đồng Chấp chánh lâm thời Trung Kỳ ra Nghị định số 84-NĐ thiết lập 3 Nha Bang tá ở thành phố Huế, gồm Thành Nội, Gia Hội và An Cựu.

Ngày 3/11/1951, Thủ hiến Trung Việt ra Nghị định số 1728 –NĐ/PC và Nghị định số 1729 – NĐ/PC thành lập tại thành phố Huế 2 quận cảnh sát Tả Ngạn và Hữu Ngạn, đồng thời bãi bỏ các bang tá Thành Nội, Gia Hội và An Cựu.

Từ đô thị Huế đến thị xã Huế

Ngày 10/11/1956, tại Thông tư số 4.107 –BNV/HC của Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn đã thông báo danh xưng hành chính của Huế là “đô thị Huế”, có tính cách pháp nhân, ngân sách và công sản, đặt dưới quyền quản trị của một Đô trưởng chỉ định và Hội đồng đô thị.

Nghị định số 2058 - ND/PC ngày 23/10/1956, đô thị Huế gồm có 3 quận. Quận Thành Nội gồm có các phường Tây Lộc, Tri Vụ, Thuận Cát, Huệ An, Trung Tích, Tây Linh, Thái Trạch, Phú Nhơn, Vĩnh Ân và Trung Hậu. Quận Hữu Ngạn có 2 khu là Khu A (phường Phú Vĩnh và Phú Ninh) và Khu B (phường Phú Nhuận và Phú Hội). Quận Tả Ngạn gồm 4 khu; Khu Phú Hiệp có 3 phường Phú Hậu, Phú Mỹ và Phú Thọ; Khu Phú Hương có phường Phú Cát; Khu Phú Thuận có 2 phường Phú Hòa và Phú Bình; Khu Phú An có phường Phú Thạnh và 9 vạn đò.

Ngày 21/1/1959, chính quyền Sài Gòn ra Sắc lệnh số 23 - TTP thay thế danh từ “Đô thị” thành “Thành phố”. Cùng với Đà Nẵng và Đà Lạt, Huế được gọi là thành phố. Ngày 31/5/1964, Sắc lệnh số 669 – BNV/NC của Tổng trưởng Nội vụ đã đổi các thành phố Huế, Đà Nẵng và Đà Lạt thành thị xã. Danh xưng thị xã Huế được chính quyền Sài Gòn sử dụng cho đến tháng 3/1975.

Ngày 19/6/1967, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 1455 - NĐ/ĐUHC chia thị xã Huế thành 3 quận. Quận Nhất gồm các tường thành và hào bao bọc khu Thành Nội, kể cả Mang Cá nhỏ. Quận Nhì có ranh giới với quận Nhất, tả ngạn sông Hương, ranh giới với xã Phú Lưu thuộc quận Phú Vang, hữu ngạn sông Hương nối qua sông Đào, cửa Hậu và sông Kẻ Vạn. Quận Ba ở tả ngạn sông Hương, ranh giới các xã Phú Lưu, Phú Lương (quận Phú Vang), các xã Thủy Phú, Thủy An, Thủy Phước, Thủy Trường, Thủy Xuân (quận Hương Thủy).

Ngày 4/8/1968, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 319/BNV/NC/19 quy định địa phận thị xã Huế gồm 10 khu phố, 22 khóm và 11 vạn trực thuộc 3 quận. Quận Nhất gồm có 3 khu phố là Thuận Hòa (có 4 khóm gồm Tây Lộc, Tri Vụ, Huệ An, Thuận Cát), Thuận Thành (có 4 khóm gồm Thái Trạch, Trung Tích, Trung Hậu, Đại Nội)  và Thuận Lộc (có 3 khóm, gồm Tây Linh, Phú Nhơn, Vĩnh An). Quận Nhì gồm 5 khu phố: Phú Thuận (có 2 khóm, gồm Phú Thạnh, Phú Bình), Phú Hòa (có 1 khóm là Phú Hòa), Phú Hiệp (có 3 khóm gồm Phú Mỹ, Phú Thọ, Phú Hậu), Phú Cát (có 1 khóm là Phú Cát) và Phú An ( có 11 vạn đò). Quận Ba gồm 2 khu phố là Vĩnh Ninh (có 2 khóm gồm Phú Ninh, Phú Vĩnh) và Vĩnh Lợi ( có 2 khóm gồm Phú Hội, Phú Nhuận).

Ngày 19/6/1970, chính quyền Sài Gòn ra Nghị định số 637 – NĐ/NV điều chỉnh lại ranh giới giữa quận Nhất và quận Nhì thuộc thị xã Huế. Theo đó, quận Nhất bao gồm khu Thành Nội và Mang Cá Nhỏ, kể cả tường thành bao bọc khu này. Quận Nhì gồm ranh giới với quận Nhất, tả ngạn sông Hương, ranh giới xã Phú Lưu thuộc quận Phú Vang, hữu ngạn sông Hương nối qua sông Đào, cửa Hậu và sông Kẻ Vạn.

Theo Địa phương chí thị xã Huế, năm 1973, quận Nhất có dân số 69. 448 người, gồm 3 phường là Thuận Hòa, Thuận Thành và Thuận Lộc; quận Nhì có dân số 86.156 người, gồm 5 phường là Phú Thuận, Phú Hòa, Phú Hiệp, Phú Cát và Phú An; quận Ba có dân số 41.926 người, gồm 2 phường Vĩnh Ninh và Vĩnh Lợi. 

(Còn tiếp)

Kỳ 3: Điều chỉnh và mở rộng để phát triển

ĐAN DUY
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Phát triển đô thị thông minh bằng dữ liệu số

Sau gần một thập niên xây dựng đô thị thông minh, thành phố Huế đã hình thành được hệ sinh thái số rộng khắp, kết nối chặt chẽ giữa chính quyền - doanh nghiệp - người dân. Từ nền tảng đó, Huế chính thức bước vào giai đoạn 3 với trọng tâm phát triển đô thị thông minh bằng dữ liệu số, lấy người dân làm trung tâm, gắn với tăng trưởng xanh, bền vững, thích ứng.

Phát triển đô thị thông minh bằng dữ liệu số
CHUYỂN ĐỔI HỘ KINH DOANH LÊN DOANH NGHIỆP:
Tận dụng lợi thế để phát triển

“Việc chuyển đổi mô hình quản lý thuế theo hướng công khai, minh bạch sẽ giúp kéo gần khoảng cách giữa mô hình doanh nghiệp (DN) và hộ kinh doanh (HKD). Tuy nhiên, các HKD cần cân nhắc dựa trên doanh thu thực tế, khả năng quản trị và định hướng tương lai để lựa chọn chuyển đổi mô hình phù hợp” - đó là chia sẻ của ông Trần Minh Đức, Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Tư vấn Tài chính - Kế toán - Thuế Hồng Đức với Huế ngày nay.

Tận dụng lợi thế để phát triển
Hành trình hơn 10 năm xây dựng thương hiệu Công ty TNHH Xây dựng & Thương mại Nhà Huế

Được hình thành từ năm 2015, Nhà Huế khởi đầu với lĩnh vực thi công các dự án cấp 2 và cấp 3, công tác các hạng mục kết cấu đến hoàn thiện. Trải qua quá trình hoạt động bền bỉ và không ngừng hoàn thiện, đến ngày 26/4/2019, Công ty TNHH Xây dựng & Thương mại Nhà Huế chính thức được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy phép kinh doanh số 3301648054, đánh dấu bước ngoặt mở rộng quy mô và lĩnh vực hoạt động.

Hành trình hơn 10 năm xây dựng thương hiệu Công ty TNHH Xây dựng  Thương mại Nhà Huế
Cơ hội để chuyển hóa lợi thế di sản thành năng lực phát triển

Ngày 7/1, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về phát triển nhanh, bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế, chính trị, xã hội với văn hóa và con người.

Cơ hội để chuyển hóa lợi thế di sản thành năng lực phát triển

TIN MỚI

Return to top