ClockThứ Năm, 27/10/2011 05:53

Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 17

HNN - Chương đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ nhất bên phải tượng trưng cho ánh sáng

Mông Đồng Thuyền

12. Mông Đồng Thuyền,tức loại thuyền có nhiều tay chèo được chế tạo dưới triều vua Gia Long, Minh Mạng. Có tài liệu nói rằng, thời Nguyễn sơ, nhà vua cho mua một loại tàu của châu Âu, đem về tháo ra, mô phỏng lại, Sở Võ khố chọn người cứ theo vậy mà đóng thành loại thuyền đồng này?

Thuyền mông đồng là loại phương tiện thủy chiến khá “hiện đại” dưới thời Minh Mạng, đi sông lớn và ven biển rất tiện lợi. Đây là loại thuyền dùng cho thủy binh, đánh dấu thành tựu đóng thuyền đồng của Việt Nam ở thế kỷ XIX.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng loại thuyền mông đồng lên Chương đỉnh.

Lợi Nông Hà

13. Lợi Nông Hà, tức sông Lợi Nông, còn gọi sông Phủ Cam, sông An Cựu, ở phía bắc huyện Hương Thủy - nay thuộc thành phố Huế; cửa sông bắt nguồn từ đông nam xã Phú Xuân (nay là phường Vĩnh Ninh) ở bờ nam sông Hương đoạn gần cầu sắt cồn Dã Viên, chia nước từ đây chảy theo hình vòng cung ôm lấy phố xá rồi về hành cung Thần Phù, lại chảy qua hành cung Thuận Trực, đổ vào phá Hà Trung. Nguyên xưa: một dải ven sông, ruộng đất có hàng ngàn vạn mẫu, quanh năm là nước mặn, mùa lụt hay ngập úng, năm Gia Long thứ 13, xa giá ngự đến xã Thanh Thủy, xem xét hình thế, nhà vua cho triệu phụ lão đến hỏi và dụ bảo việc đào sông, dân trong vùng thưa rằng: “Khai đào con sông này thật là lợi cho nông dân”, nhà vua bèn sai quan quân đốc thúc dân binh khai đào. Lại sai đặt cửa đập ở hạ lưu Thần Phù để ngăn nước mặn. Sông được đào nhiều năm mới thành. Từ đấy vùng đất này trở thành màu mỡ, thu được mối lợi rất nhiều.

Nguyên tên sông An Cựu, năm Minh Mạng thứ 2, 1821, đổi thành tên Lợi Nông (làm lợi cho nhà nông, và ban khẩu dụ rằng: Đã có danh thì hãy lo lấy phận), phíatrên và phía dưới cửa sông đều có dựng mốc đá để ghi dấu.

Lợi Nông là con sông đầu tiên do triều Nguyễn khai đào ở Huế và Việt Nam. Khởi đào từ năm Gia Long thứ 13, 1814.

Sông Lợi Nông lấy nước từ sông Hương tưới cho đồng ruộng của huyện Hương Thủy, và là hào rãnh bảo vệ mặt nam của Kinh thành, nó còn có chức năng cân bằng độ nhiệt cho thành phố Huế, tạo nên vẻ duyên dáng trong bố cục kiến trúc ở hai bên bờ sông. Thành phố Huế cổ kính và đẹp hơn cũng nhờ có một phần của con sông này. Sông An Cựu nổi tiếng khắp đất nước bởi có đặc điểm “nắng thì đục, mưa thì trong”, và những tiếng ngâm, đàn ca Huế về đêm trên những con đò.

Dưới thời Huế còn là Kinh đô, hai bên bờ sông Lợi Nông có nhiều dinh cơ phủ đệ của các ông hoàng bà chúa, đình thờ, miếu mạo được dựng lập, hưởng cơn gió trong lành theo thủy mạch Lợi Nông tạo ra. Những đêm trăng thanh trên dòng sông này thuyền bè xuôi ngược, dào dạt âm điệu thơ ca ngân vọng.

Năm Minh Mạng thứ 17, 1836, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình sông Lợi Nông lên Chương đỉnh.

Dưới dòng sông này, trước đây mấy chục năm còn có “một xã hội” được gọi là các vạn đò Lợi Nông, An Cựu, Phủ Cam, Bình Linh sinh sống đông đúc bằng nghề sông nước, nay thì phần lớn cư dân thủy diện đã lên bờ định cư đổi đời.

Am La

14. Am La, còn đọc yêm la; tục danh quả xoài. Có hai loại nhỏ và lớn, thường gọi là hương cái, đầu đời Minh Mạng cho tên là mông, cây rất lớn, lá như lá chè mà dày; lá non ăn được; có vị chua, quả to bằng cái chén, hơi dài và dẹt, chín vào tháng 5 tháng 6, thịt mềm, sắc vàng tươi, vị rất ngọt thơm, thật là phẩm quí ở phương Nam. Vân Đài loại ngữ của Lê Quí Đôn chép rằng: tục truyền năm nào xoài sai quả thì ngũ cốc mất mùa, xoài ít quả thì ngũ cốc được mùa. Ứng với thời tiết điều này cũng có linh nghiệm. Xoài mọc nhiều ở Quảng Nam và Bình Định, nhưng từ Phú Yên, Khánh Hòa trở vào thì nhiều hơn. Một loại quả ngon, trước đây thường dùng để tiến vào cung vua. Lại có loại gọi là xoài cơm, xoài cát, xoài tượng.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây xoài có quả vào Chương đỉnh.

(còn nữa)
 
Dương Phước Thu
 

 

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số không còn là một xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành một động lực phát triển cốt lõi của các quốc gia và địa phương. Với cấu trúc gồm ba trụ cột chính: Kinh tế số lõi, kinh tế nền tảng số và kinh tế số hóa các ngành, mô hình này đang tái định hình cách thức tạo ra giá trị, phân phối nguồn lực và tổ chức đời sống xã hội.

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới
Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh

Chiều 31/3, tại TP. Huế, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp với UBND thành phố tổ chức hội thảo báo cáo giữa kỳ dự án “Xây dựng thành phố Huế văn hóa và du lịch thông minh” - một trong những dự án ODA có quy mô lớn, được kỳ vọng tạo cú hích cho tiến trình phát triển đô thị thông minh gắn với bảo tồn di sản.

Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh
Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục

Xuất phát từ góc nhìn từ thực tiễn của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, nhiều thế hệ ở Trung tâm Bảo tồn đi tích Cố đô Huế luôn trăn trở trước câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ “được giữ gìn”...

Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục
Bảo vệ di sản, kiến tạo tương lai

Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường, câu chuyện bảo vệ và phát huy giá trị di sản trở thành nhiệm vụ chiến lược. Không chỉ là sự tri ân quá khứ, bảo tồn di sản ngày nay là trách nhiệm kiến tạo tương lai; chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm, nguồn lực đổi mới sáng tạo và động lực phát triển bền vững.

Bảo vệ di sản, kiến tạo tương lai

TIN MỚI

Return to top