|
| Quang cảnh phiên họp sáng 10/8. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp |
Không để mâu thuẫn nhỏ trở thành tranh chấp lớn
Dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở gồm 5 chương, 35 điều, sửa đổi nhiều nội dung liên quan đến phạm vi hòa giải, tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, ứng dụng công nghệ thông tin, hòa giải trực tuyến, trách nhiệm của chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điểm đáng chú ý là dự thảo chuyển từ cơ chế Nhà nước hỗ trợ sang Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Thảo luận tại hội trường, đại biểu Nguyễn Tiến Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP. Huế, cho rằng, dự thảo đã tiếp thu nhiều nội dung quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hòa giải, bảo đảm nguồn lực và tạo điều kiện để công tác hòa giải thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số.
Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh mục tiêu của việc sửa luật không chỉ là hoàn thiện quy định trên giấy mà phải để hòa giải ở cơ sở thực sự trở thành cơ chế gần dân, sát dân, giúp giải quyết mâu thuẫn ngay từ khi mới phát sinh, không để những bất đồng nhỏ kéo dài thành tranh chấp lớn phải xử lý bằng các thủ tục pháp lý phức tạp.
Đại biểu Nguyễn Tiến Nam cho rằng, cần xác định rõ phạm vi của hòa giải ở cơ sở và ranh giới giữa cơ chế này với các hình thức hòa giải khác như hòa giải đất đai, lao động, thương mại, hôn nhân và gia đình hay các cơ chế hòa giải chuyên ngành. Dự thảo cần làm rõ đối tượng, thẩm quyền và giá trị pháp lý của hòa giải ở cơ sở, đồng thời xác định mối quan hệ với các cơ chế hòa giải khác để tránh chồng chéo trong áp dụng.
“Khuyến khích hòa giải nhưng tuyệt đối không để hòa giải trở thành phương thức thay thế cho hoạt động thực thi pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”, đại biểu Nguyễn Tiến Nam nhấn mạnh.
Đối với những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người hoặc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Nhà nước, đại biểu nhìn nhận, luật cần quy định rõ trách nhiệm hướng dẫn chuyển vụ việc hoặc thông tin kịp thời đến cơ quan có thẩm quyền. Không thể vì tâm lý giữ tình làng nghĩa xóm mà làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người yếu thế.
Từ thực tiễn ở cơ sở, đại biểu cho rằng, muốn hòa giải thực chất phải bắt đầu từ con người. Hòa giải viên không nhất thiết phải là luật gia hay luật sư, nhưng phải là người có uy tín, trách nhiệm, hiểu biết pháp luật, có kỹ năng lắng nghe, thuyết phục, đối thoại và am hiểu phong tục, tập quán, tâm lý cộng đồng.
Nhiều mâu thuẫn ở cơ sở không đơn thuần là câu chuyện đúng sai theo pháp luật mà gắn với quan hệ gia đình, làng xóm, đất đai, lối đi, khác biệt thế hệ và tập quán sinh hoạt. Theo đại biểu, người hòa giải giỏi không chỉ am hiểu các điều luật mà quan trọng là hiểu được căn nguyên của mâu thuẫn, tạo được sự tin cậy và giúp các bên tự nguyện tìm được tiếng nói chung trên nền tảng pháp luật.
Từ đó, đại biểu Nguyễn Tiến Nam đề nghị chuyển mạnh từ tư duy “có tổ hòa giải” sang “tổ hòa giải hoạt động thực chất, hiệu quả và có chất lượng”. Cần chú trọng đào tạo kỹ năng nhận diện mâu thuẫn, lắng nghe, đối thoại, xử lý tình huống nhạy cảm và nhận biết trường hợp cần chuyển cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, cần quan tâm phát triển đội ngũ hòa giải viên nữ, người dân tộc thiểu số và người có uy tín trong cộng đồng để tăng khả năng tiếp cận và tạo sự đồng thuận xã hội.
|
| Đại biểu Nguyễn Tiến Nam tham gia thảo luận ở hội trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp |
Xây dựng cơ chế bồi thường minh bạch, dễ tiếp cận
Chiều 10/8, tham gia thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, đại biểu Nguyễn Tiến Nam cho rằng, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết nhanh hơn các vụ việc bồi thường mà quan trọng hơn là phải bảo đảm người bị thiệt hại thực sự có khả năng tiếp cận cơ chế bồi thường; cơ quan Nhà nước phải chịu trách nhiệm rõ ràng và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ phải tương xứng với mức độ lỗi.
Đại biểu Nguyễn Tiến Nam đồng tình với việc sửa đổi các điều 42, 43 và 45 theo hướng rút ngắn thời gian giải quyết yêu cầu bồi thường, coi đây là bước tiến tích cực trong cải cách thủ tục hành chính. Tuy nhiên, đại biểu nhấn mạnh nguyên tắc xuyên suốt: “Cắt giảm thủ tục của cơ quan Nhà nước, không cắt giảm quyền của người dân.”
Theo đại biểu Nguyễn Tiến Nam, việc đơn giản hóa thủ tục chỉ có ý nghĩa khi người bị thiệt hại không phải tự mình đi tìm cơ quan có trách nhiệm giải quyết. Luật cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận, xác định và chuyển hồ sơ; đồng thời xác định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền nếu việc xác định cơ quan giải quyết bị kéo dài do nguyên nhân chủ quan.
Đại biểu cũng đề nghị phân biệt rõ giữa những vấn đề mang tính kỹ thuật, thủ tục hành chính với những nội dung trực tiếp xác lập quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại. Theo ông, thương lượng bồi thường không chỉ là một bước thủ tục mà liên quan trực tiếp đến mức bồi thường, phạm vi thiệt hại được bồi thường và việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Vì vậy, cần tiếp tục rà soát các nội dung dự kiến giao Chính phủ quy định chi tiết, nhất là những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền được bồi thường, nhằm bảo đảm tính minh bạch, ổn định và khả năng dự liệu của pháp luật.
Đối với các vụ việc xảy ra từ nhiều năm trước, đại biểu chia sẻ khó khăn trong việc thu thập hồ sơ, tài liệu và xác định người thi hành công vụ gây thiệt hại. Tuy nhiên, ông khẳng định không nên biến khó khăn trong việc thu thập chứng cứ thành căn cứ để bỏ qua việc xem xét trách nhiệm.
Theo đại biểu Nguyễn Tiến Nam, cần phân biệt rõ giữa trường hợp không thể xác định được trách nhiệm sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp cần thiết và trường hợp chưa làm hết trách nhiệm nhưng đã kết thúc việc xem xét. Một cơ chế trách nhiệm rõ ràng không làm cán bộ e ngại mà góp phần xây dựng nền công vụ dám làm, dám chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm đúng mức.
|
|
|
Trong ngày 10/8, Quốc hội cũng đã thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kiến trúc.
|