ClockThứ Tư, 19/08/2020 15:29

Thêm một cuốn sách quý về di sản Cố đô Huế

HNN - Tin vui cho những nhà nghiên cứu, và những ai quan tâm di sản Cố đô, đó là cuốn sách về sắc phong, chế phong, chiếu thời Nguyễn tại Thừa Thiên Huế vừa được Nhà xuất bản Thanh Niên ra mắt bạn đọc.

“Kinh đô Huế thế kỷ XIX”Tiếp nối di sản cung đìnhHoàn thành tốt sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Cuốn sách là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ, kiên trì, ngót một thập kỷ (từ năm 2011đến 2020) của Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế và Thư viện Khoa học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, năm 2018 có thêm Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tham gia, trong việc khảo sát, sưu tầm và số hóa tài liệu Hán – Nôm làng xã và tư gia ở Thừa Thiên Huế; với sự hỗ trợ và đồng hành tích cực, hiệu quả của việc triển khai 2 đề tài khoa học cấp cơ sở (2011- 2013), cấp tỉnh (năm 2014).

Bước chân âm thầm, lặng lẽ của những nhà sưu tầm (như sưu tầm hiện vật gốc bảo tàng) đã tới lui không biết bao nhiêu lần làm quen, gợi mở, thuyết phục những chủ nhân thuận lòng mở gia bảo với nghi thức trang trọng, tôn kính nơi 14 phủ đệ, 118 làng, đền thờ và nhà vườn thuộc 515 gia đình, họ tộc…, để có 263.848 trang tài liệu Hán - Nôm (trong đó, có hàng chục ngàn sắc phong, chế phong, chiếu chỉ, lệnh chỉ) được sưu tầm và số hóa.

Kế tục thành quả và sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, và bạn đọc với cuốn sách Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn ở Thừa Thiên Huế (giới thiệu tóm tắt hơn 2.171 sắc phong, sắc chỉ thời Nguyễn) xuất bản năm 2018; cuốn sách xuất bản lần này “tuyển chọn và giới thiệu đầy đủ nội dung 300 tài liệu Hán – Nôm quý, bao gồm 180 sắc phong, 100 chế phong và 19 chiếu”; với  nguyên tắc tuyển chọn cẩn trọng “là các văn bản sắc phong, chế phong, chiếu phải là bản gốc, chất lượng còn tốt (trên 60%), hiện vẫn lưu giữ tại các phủ, các làng và các dòng họ”.

Nội dung của cuốn sách được kết cấu theo ba phần chính: hình ảnh, phiên âm, dịch nghĩa, và bảng tra. Với bố cục lô gíc, hợp lý này, rất thuận tiện cho việc tìm hiểu và tra cứu. Phần 1, giới thiệu hình ảnh của 180 sắc phong, 100 chế phong, 19 chiếu khá rõ ràng, đẹp, với gam màu vàng vẽ chìm họa tiết rồng mây, gợi tò mò với những ai am hiểu nhất định về lĩnh vực này.

Phần 2, phiên âm, dịch nghĩa nội dung của sắc phong, chế phong, chiếu. Đây là phần hồn, cốt lõi, trọng tâm của cuốn sách. Bởi nó “cung cấp thông tin” một cách chính thống và chính xác về chủ thể phong là ai? Đối tượng được phong và phong về việc gì? Thời gian phong?... Từ đó, cho chúng ta hiểu rõ thêm “sắc phong là một loại văn bản hành chính đặc biệt của nhà nước quân chủ phong kiến đứng đầu là hoàng đế để ban thưởng khen ngợi cho những nhân vật có công lao đóng góp cho làng xã, đất nước; với sắc phong thần kỳ, những nhân vật được ban tặng sắc phong có thể là nhân thần (những người khi còn sống đã có công trạng, khi mất được làng xã thờ tự, suy tôn như thần) hoặc thiên thần, nhiên thần (những thần linh có thần tích kỳ dị, hiển ứng được làng xã thờ vọng). Độ tin của nội dung rất cao, được tiến hành theo phương pháp khoa học chặt chẽ “hợp nhóm theo từng phủ, làng, tư giá, niên đại từ sớm đến muộn và đã được các chuyên gia chuyên ngành thẩm định, đánh giá”.

Phần 3, cung cấp bảng tra cứu về sắc phong, chế phong, chiếu được sắp xếp theo: số thứ tự, nhan đề tài liệu, nơi lưu trữ tài liệu gốc, hình, dịch nghĩa, mã file gốc.

Sắc phong, chế phong, chiếu thời Nguyễn là “một nhóm tài liệu quý có giá trị cao về nội dung và chất liệu trong hệ thống các loại văn bản Hán – Nôm”. Nó là loại văn bản pháp quy cao nhất, gần như độc bảng. Do vậy, sưu tầm, số hóa loại văn bản đặc biệt quý hiếm này sẽ bổ sung và làm phong phú thêm tính đặc thù riêng có của kho sách địa chí Thừa Thiên Huế, cung cấp những thông tin cần thiết, làm sáng rõ hơn “phong tục lễ nghi của làng xã và những điển chế của triều đình đối với làng xã Việt Nam, đặc biệt là tại vùng đất Thuận Hóa xưa…; xác minh về các thời điểm thành lập, tên làng xã, thôn ấp… các tộc họ, tổ nghề, sự kiện và nhân vật lịch sử”, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của di sản Cố đô và bản sắc văn hóa Huế.

Lê Viết Xuân

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Gợi mở những kiến tạo để di sản Huế trở thành động lực phát triển

PGS.TS. Nguyễn Xuân Tế (Tổng Biên tập Tạp chí Khoa học Trường Đại học Văn Lang) cho rằng, Huế đang đứng trước bước ngoặt lớn về thể chế khi di sản không chỉ được nhìn nhận đơn thuần là đối tượng bảo tồn mà trở thành nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm để phát triển.

Gợi mở những kiến tạo để di sản Huế trở thành động lực phát triển
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

Nếu 5 năm qua là giai đoạn xây dựng "hồ chứa dữ liệu", thì 5 năm tới sẽ là thời kỳ hình thành "nhà máy điện dữ liệu", nơi dữ liệu không chỉ được lưu trữ mà còn được khai thác để tạo ra những giá trị mới. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu các cơ quan quản lý phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy khai thác và phát huy giá trị dữ liệu, qua đó vừa đưa di sản đến gần hơn với công chúng, vừa mở ra các cơ hội phát triển kinh tế từ di sản.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản nhìn từ kinh nghiệm quốc tế
Từ “mỏ vàng” di sản đến nguồn lực sáng tạo quốc gia

Ngày 13/7 vừa qua, phát biểu chỉ đạo tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong “bốn khoảng trống” lớn nổi lên từ thực tiễn, đó là về năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Thực tế, Việt Nam không thiếu những di sảni đặc sắc kết tinh chiều sâu văn hóa, lịch sử và trí tuệ dân tộc, nhưng nếu chỉ dừng ở bảo tồn hay khai thác theo phương thức truyền thống, thì những giá trị từ di sản sẽ khó trở thành sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh tế sáng tạo.

Từ “mỏ vàng” di sản đến nguồn lực sáng tạo quốc gia
Tìm những “mảnh ghép” còn thiếu của di sản

Nhiều tư liệu quý về Triều Nguyễn, các công trình hay nghi lễ xưa của Huế hiện vẫn nằm rải rác trong các bảo tàng, trung tâm lưu trữ và bộ sưu tập cá nhân ở nước ngoài. Thông qua hợp tác quốc tế, kết nối với các nhà nghiên cứu và tổ chức văn hóa, Huế đang nỗ lực đưa những nguồn tư liệu ấy trở lại phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn, phục dựng di sản.

Tìm những “mảnh ghép” còn thiếu của di sản
Gỡ “điểm nghẽn” cho các dự án bảo tồn di sản

Những năm gần đây, Huế triển khai chương trình bảo tồn, tu bổ và phục hồi di sản có quy mô lớn chưa từng có. Hàng chục dự án trọng điểm thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế được triển khai đồng thời với tổng vốn đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng, cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Trung ương, của thành phố Huế và ngành văn hóa đối với di sản.

Gỡ “điểm nghẽn” cho các dự án bảo tồn di sản

TIN MỚI

Return to top