ClockThứ Năm, 19/02/2026 16:03

Điển lễ “Xuất quân” thời Nguyễn vào tháng Giêng hằng năm & bài thơ xem duyệt binh của vua Minh Mạng

HNN.VN - Dưới triều Nguyễn, vào tháng Giêng hàng năm, Nha Khâm Thiên giám chọn ngày tốt (thường sau 11 âm lịch) để triều đình tổ chức lễ Tế “Thần kỳ đạo”. Đây là lễ tế cờ liên quan đến quân đội và thao diễn quân binh nhằm củng cố lực lượng phòng vệ quốc gia. Ban đầu, lễ này được gọi là Lễ Xuất quân, nhưng đến năm 1830, vua Minh Mạng cho đổi thành lễ Tế Kỳ đạo.

Du khách thích thú xem tái hiện lễ thiết triều Nguyên đán Ngựa và long mã trong văn hóa cung đình thời NguyễnNgọc ngà kể chuyện thú chơi xưa

Tranh minh họa duyệt binh ở Nam Đài 

1. Lễ Xuất quân (Tế Kỳ đạo) và thao diễn quân binh

Trong lễ tế, các “Thần kỳ” được sắp đặt để làm lễ tế gồm: Kỳ đạo chi thần (Thần Kỳ đạo); Kỳ đầu đại tướng (Cờ đầu đại tướng); Lục đạo đại tướng (Sáu đạo đại tướng); Ngũ phương kỳ thần (Thần năm phương); Kim Cổ Dốc Súng Bác chi thần (Thần Chiêng, Trống, Tù và; Súng, Đại bác); Cung nổ, Phi thương, Phi thạch chi thần (Thần cung nỏ, phóng lao, phóng đá); Trận tiền trận hậu chi thần (thần Trần tiền, trận hậu). Sau khi tiến hành lễ tế theo đúng quy thức, điển lệ gồm các đồ tế tự, hào soạn và nghi thức đúng khuôn phép, lần lượt “xuất quân” tập trận lần lượt gồm các “binh chủng”: hỏa pháo binh, bộ binh, thủy binh, tượng binh, mã binh.

Trước khi diễn tập, bộ Binh đánh thanh la, phất cờ, các đội hỏa pháo binh, súng ống tập trận (tham gia gồm có 4 cỗ súng Võ công; 12 cỗ Đại bác; 15 khẩu súng Quá sơn; 500 khẩu súng điểu thương). Sau đó, bộ binh gồm các đội giáo, mác, cung, nỏ vào tập trận. Trống đánh 3 hồi thì các đội tiến lên diễn tập, chiêng khua ba loạt thì phất cờ thu quân.

Tiếp đến là xuất quân huấn luyện thủy binh. Sau phần tiểu nhạc, viên Đô thống phất cờ báo lệnh, thủy binh hành quân ra sông Hương để chèo thuyền theo nghi thức, khi nghe tiếng chiêng thì thu quân. Ngày hôm sau mới chính thức diễn tập thủy trận trên sông Hương. Tham gia diễn tập thủy binh có nhiều đội thuyền với các tên gọi khác nhau như Tiền dực, Phấn dục, Tiền thủy, Nội thủy, Nội trực, v.v. Các thuyền xếp thành hàng, đều đặn cùng thao diễn trên sông Hương.

Sau cùng là xuất quân huấn luyện tượng binh và mã binh. Tập trận voi diễn ra trước gồm ba đội Nhất tượng, Nhị tượng và Tam tượng. Sau đó Hai đội ngựa là Tả mãHữu mã diễn tập với hai phần: diễn tập cưỡi ngựa và kéo cỗ xe. Ngựa sử dụng vào thời Nguyễn chủ yếu phục vụ cho nghi thức gắn với các nghi lễ của triều đình.

Các vị vua triều Nguyễn đều đến Ngọ Môn để duyệt binh (trước đây Ngọ Môn là Nam Khuyết Đài, xây dựng đầu thời Gia Long, bên trên có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả, Hữu Đoan Môn. Năm 1833, thời Minh Mạng khi tổ chức quy hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng Thành, triều Nguyễn cho hạ giải Nam Khuyết Đài và xây dựng Ngọ Môn).

2. Bài thơ xem duyệt binh của vua Minh Mạng

Trong một dịp như vậy, vào năm Kỷ sửu (1828), vua Minh Mạng mặc quân phục, đeo gươm, cưỡi ngựa đến Nam Đài để duyệt binh. Nhân đó, nhà vua làm bài thơ Ngự Nam đài duyệt thị Kinh binh đắc cú (Ngự Nam Đài duyệt binh Kinh đô được vần thơ) để ghi nhớ sự kiện (Bài thơ in trong Ngự chế thi sơ tập, quyển 5, tờ 20b, 21a).

Tờ 20b và 21a quyển 5 Ngự chế thi sơ tập của vua Minh Mạng 

Phiên âm bài thơ như sau:  

Cửu thiên thanh lãng tảo khai tình,

Lâm ngự Nam đài án loan hành.

Củ củ tì hưu nhân khí phấn,

Sâm sâm qua kích nhật quang minh.

Thân nghiêm kỷ luật hiền bình tố,

Bộ phạp chỉ trai huấn luyện tinh.

Tuy chính tu văn yển vũ nhật,

Tùy thời tu khả khiết nhung binh.

Dịch thơ:

Cao xanh khoáng đãng tạnh mây quang,

Ngự đến Nam Đài với kiệu loan.

Hùng dũng quân binh hào khí dấy,

Rừng rừng giáo mác sáng lòa vang.

Nghiêm minh kỷ luật thuần từ trước,

Huấn luyện bước đi có lớp lang.

Tuy lúc hưng văn, thôi luyện võ,

Phải luôn phòng bị, sẵn muôn hàng.

Bài thơ ghi lại quang cảnh buổi duyệt quân trang nghiêm, thể hiện tư tưởng trị quốc đặc trưng của nhà vua với đường lối củng cố trung ương tập quyền và xây dựng quân đội hùng mạnh dưới triều Nguyễn.

Hai câu đề mở ra không gian khoáng đạt, trong trẻo với điều kiện thời tiết thuận lợi: cao xanh khoáng đãng tạnh mây quang. Bầu trời quang đãng vừa tả thực thời tiết đẹp của buổi duyệt binh, vừa mang ý nghĩa biểu trưng cho vận nước sáng trong, thái bình. Hình ảnh nhà vua ngự đến Nam Đài cho thấy uy nghi của thiên tử trong nghi trượng long trọng. Sự xuất hiện của nhà vua giữa trời cao, đài rộng làm nổi bật vị thế tối thượng của hoàng quyền, đồng thời thể hiện tinh thần “thân chinh”, nhà vua trực tiếp quan sát và chỉ đạo quân đội.

Củ củ tì hưu nhân khí phấn / Sâm sâm qua kích nhật quang minh (Hùng dũng quân binh hào khí dấy / Rừng rừng giáo mác sáng lòa vang) đã khắc họa khí thế quân binh trong buổi thao diễn. Hình ảnh “tì hưu” gợi liên tưởng đến linh vật dũng mãnh, ví với binh sĩ oai phong, khí thế bừng bừng. Từ láy “củ củ” (hùng dũng), “sâm sâm” (rừng rừng) tạo nhịp điệu mạnh, dồn dập, làm nổi bật đội ngũ chỉnh tề, giáo mác sáng lóa dưới ánh mặt trời. Đó không chỉ là vẻ đẹp hình thức mà còn là biểu hiện thị uy sức mạnh quốc gia. Qua đó, tác giả bộc lộ niềm tự hào về đội quân được tổ chức quy củ, tinh nhuệ.

Hai câu tiếp chuyển sang nhấn mạnh yếu tố kỷ luật và huấn luyện: Nghiêm minh kỷ luật thuần từ trước / Huấn luyện bước đi có lớp lang. Quân đội không chỉ có khí thế mà còn phải có nền tảng kỷ cương, rèn luyện bài bản. Tinh thần “nghiêm minh kỷ luật” phản ánh quan điểm trị quân nhất quán của Minh Mạng: lấy lễ nhạc, phép tắc làm gốc, lấy rèn luyện làm trọng. Điều này phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, quân sự mà ông đã thực thi trong suốt thời gian trị vì.

Kết bài thơ, nội dung tư tưởng hướng đến sự cân bằng giữa văn và võ: “Tuy chính tu văn yển vũ nhật / Tùy thời tu khả khiết nhung binh.” Dù trong thời bình, chú trọng văn trị, vẫn phải luôn sẵn sàng võ bị. Ở đoạn kết, nhà vua còn nhấn mạnh qua chú thích với đại ý là, tuy quốc gia thừa hưởng uy liệt có thừa, trong ngoài yên ổn, nhưng việc võ bị vẫn phải thường xuyên luyện tập, khiến cho kỹ năng binh lính ngày càng thuần thục, kỷ luật ngày càng nghiêm. Lại nên xem xét tăng thêm khen thưởng để việc giáo dưỡng được trọng hậu mà giảm bớt lao khổ. Bình thường thì có thể bảo vệ vững chắc đất nước, khi hữu sự thì có thể chống giặc, phòng biển. Quốc gia đâu có thể chểnh mảng những việc này. Đây là quan điểm chính trị sâu sắc, quốc gia muốn bền vững phải kết hợp hài hòa “văn” và “võ”, tuy là thời thái bình cũng không được phép coi nhẹ quốc phòng. Tư tưởng ấy phản ánh ý thức cảnh giác và tầm nhìn chiến lược của vị hoàng đế trong bối cảnh khu vực có nhiều biến động.

3. Phát hiện thông tin quan trọng trong nội dung bài thơ

Trong bài thơ này của vua Minh Mạng, có một chi tiết mang tính ngữ liệu rất quan trọng đến địa danh Đại Nội. Xưa nay, rất nhiều người thắc mắc, tên gọi Đại Nội (chỉ Hoàng Thành Huế) xuất phát từ đâu, có từ bao giờ, và "đâu là Đại Nội". Khoảng năm 1998, hai nhà nghiên cứu văn hóa Huế là Hồ Tấn Phan và Phan Thuận An đã có một cuộc tranh luận học thuật với nội dung: Đâu là Đại Nội và tên gọi đó có từ bao giờ. Cuộc tranh luận này vẫn chưa có hồi kết, vì trong sử sách triều Nguyễn chưa bao giờ thấy nhắc đến danh xưng Đại Nội. Nhiều người vẫn cho rằng danh xưng Đại Nội xuất phát từ cách gọi của dân gian.

Trong bài thơ trên, ở cuối bài, vua Minh Mạng có chú thích với nội dung sau:自大内至南臺雖不及里然遞年御臺閱兵向皆戍服佩刀乘馬亦萬先示度之意 (nghĩa là: Từ Đại Nội đến Nam Đài tuy chưa đến một dặm, nhưng hằng năm khi vua ngự ra đài duyệt binh, thường mặc quân phục, đeo gươm, cưỡi ngựa, cũng là để tỏ trước ý biểu thị uy nghiêm, phép tắc).

Như vậy, có thể khẳng định Đại Nội chính là Hoàng Thành (hiểu theo lời chú thích của vua Minh Mạng) và danh xưng Đại Nội đã được vua sử dụng trong bài thơ từ năm 1829 - bài thơ sáng tác năm Kỷ sửu. Đó là một tài liệu xác thực về danh xưng Đại Nội. Hơn nữa, trên các hiện vật là đồ tự khí (như trường hợp ở một số mặt quả bồng là cổ vật) dùng để bày ngũ quả thờ tự tại các miếu trong Hoàng Thành đều có khắc chìm 2 chữ Đại Nội theo lối chữ khải (大内) rồi thếp vàng một cách cẩn thận. Những điều trên chứng minh rằng Đại Nội là danh xưng chính thống của triều Nguyễn (nhưng ít sử dụng) và Đại Nội dùng để chỉ chung không gian của Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

Bài thơ vì vậy còn có một giá trị về tư liệu địa danh, và đến đây có lẽ danh xưng Đại Nội đã được xác tín thêm về nguồn gốc và ý nghĩa của tên gọi.

Hai chữ Đại Nội trên các quả bồng tự khí tại các miếu ở Hoàng Thành 

*

Nhìn chung, bài thơ với tinh thần “ngôn chí”, là sự kết hợp hài hòa giữa cảm hứng trữ tình và ý thức chính trị. Ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ mà sống động, giọng điệu hào sảng, thể hiện phong thái của một vị minh quân. Qua đó, ta thấy rõ hình ảnh một nhà vua vừa yêu chuộng thái bình, vừa đề cao tiềm lực quốc phòng, luôn đặt lợi ích và sự ổn định của quốc gia lên hàng đầu. Nghiên cứu nội dung bài thơ, còn tìm được một thông tin quan trọng, góp phần tường minh cho nguồn gốc danh xưng Đại Nội (Hoàng Thành) ở Huế.

Nguyễn Phước Hải Trung
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Du khách thích thú xem tái hiện lễ thiết triều Nguyên đán

Sáng 11/2 (nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ), tại sân Đại triều điện Thái Hòa (Đại Nội Huế), Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức chương trình tái hiện lễ thiết triều Nguyên đán của triều Nguyễn. Hoạt động thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, góp phần tái hiện không khí Tết cổ truyền trong không gian Hoàng cung xưa.

Du khách thích thú xem tái hiện lễ thiết triều Nguyên đán
Theo dấu Cơ Hạ

Cơ Hạ - vườn ngự uyển nổi tiếng của Kinh đô Huế thời Nguyễn, gần như mất dấu các kiến trúc qua thời gian và thời cuộc. Tuy nhiên, nhờ việc sưu tầm, số hóa và phân tích ảnh tư liệu, một Cơ Hạ vẹn nguyên đang dần hiện ra đúng nghĩa của “đẳng cấp”.

Theo dấu Cơ Hạ
Lễ Nguyên đán thời Nguyễn

Nguyên đán là một điển lễ triều hội của Triều Nguyễn, xưa lễ này gọi là “tiết Nguyên đán” (tết Nguyên đán). Theo quy định được tổ chức tại những địa điểm quan trọng gọi là “Ngự tiền” (là khu vực phía trước vua ngự - cụ thể là ở điện Thái Hòa và điện Cần Chánh). Lễ Nguyên đán còn tổ chức ở Từ Cung (sau này là cung Diên Thọ, nơi ở của thân mẫu nhà vua), ở điện Khôn Đức (sau này là cung Khôn Thái, nơi ở của hoàng hậu), ở Thanh Cung (nơi ở của Hoàng thái tử). Lễ tổ chức vào ngày mồng 1 Tết với những nghi tiết gắn liền điển lệ cung đình.

Lễ Nguyên đán thời Nguyễn
Tháng Giêng xanh

Màu xanh tháng Giêng có một sức gợi thật mạnh mẽ, như buổi sáng hôm “ngày còn mồng” dịp Tết, đi chợ đầu năm mua cái sự may mắn như quan niệm xưa của người Việt mình. Đến chợ, quên mất là mua cau trầu đầu tiên để lấy duyên, tôi sà ngay vào gánh hàng rau mua ngay hai bó, một rau khoai và một rau cải - những món xanh non cuốn hút và chỉ nhìn thôi đã thấy ngọt ngào rồi.

Tháng Giêng xanh

TIN MỚI

Return to top