ClockThứ Ba, 14/10/2025 15:18

Ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế xã hội

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 2244/QĐ-TTg ngày 13/10/2025 ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội (Bộ tiêu chí).

Hương Trà tập trung các nguồn lực phát triển đô thị, xây dựng nông thôn mới Tận dụng dư địa phát triển, mở rộng quy mô kinh tếKinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm có nhiều điểm nhấn

 

Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội gồm 46 tiêu chí.

Quyết định áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Việt Nam.

46 tiêu chí đánh giá

Bộ tiêu chí gồm 46 tiêu chí chia thành 04 nhóm chính, được sử dụng làm căn cứ để đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội ở cấp độ quốc gia.

Cụ thể các nhóm tiêu chí gồm:

- Nhóm tiêu chí đầu vào (2 tiêu chí):

(1) Nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

(2) Đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

- Nhóm tiêu chí kết quả (10 tiêu chí), trong đó:

+ Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo (6 tiêu chí):

(1) Số lượng bài báo của Việt Nam công bố trên tạp chí khoa học và công nghệ;

(2) Số lượng đơn đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích của tổ chức, cá nhân Việt Nam;

(3) Số lượng bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích cấp cho tổ chức, cá nhân Việt Nam;

(4) Số lượng đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam;

(5) Số lượng văn bằng bảo hộ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam;

(6) Số người được đào tạo thông qua nhiệm vụ khoa học và công nghệ;

+ Đánh giá kết quả chuyển giao và ứng dụng (4 tiêu chí):

(7) Tỷ lệ sáng chế, giải pháp hữu ích, giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản được ứng dụng, chuyển giao;

(8) Giá trị chuyển giao của các sáng chế, giải pháp hữu ích, giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản;

(9) Số lượng hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được đăng ký và cấp phép;

(10) Giá trị các hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được đăng ký và cấp phép.

- Nhóm tiêu chí hiệu quả (5 tiêu chí), trong đó:

+ Đánh giá về hiệu quả kinh tế (3 tiêu chí):

(1) Tỷ trọng đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong GDP;

(2) Tỷ trọng đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào tăng trưởng GDP;

(3) Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân;

+ Đánh giá về hiệu quả đối với doanh nghiệp (2 tiêu chí):

(4) Tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm mới;

(5) Tỷ lệ chi phí quản lý, vận hành giảm nhờ chuyển đổi số.

- Nhóm tiêu chí tác động (29 tiêu chí), trong đó:

+ Đánh giá về tác động kinh tế (7 tiêu chí):

(1) Tỷ trọng kinh tế số trong GDP;

(2) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP;

(3) Giá trị gia tăng của sản phẩm các ngành kinh tế đóng góp vào GDP;

(4) Tổng doanh thu của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung;

(5) Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa;

(6) Giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp công nghệ thông tin;

(7) Doanh thu từ dịch vụ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

+ Đánh giá về tác động xã hội và môi trường (10 tiêu chí):

(8) Tỷ lệ lao động làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;

(9) Tỷ lệ người dân được tiếp cận cơ hội học tập suốt đời;

(10) Tỷ lệ đơn vị hành chính áp dụng hệ thống giám sát, quản lý thông minh;

(11) Mức độ số hóa tài nguyên văn hóa dân tộc;

(12) Mức độ đổi mới sáng tạo trong phát huy giá trị văn hóa dân tộc;

(13) Tỷ lệ cơ sở y tế ứng dụng công nghệ số trong khám, chữa bệnh;

(14) Tỷ lệ phủ sóng mạng di động băng rộng 5G trên dân số;

(15) Tỷ lệ giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt;

(16) Tỷ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu tiêu thụ năng lượng;

(17) Số lượng công nghệ môi trường được ứng dụng.

+ Đánh giá tác động quản trị và dịch vụ công (8 tiêu chí):

(18) Tỷ lệ kích hoạt tài khoản định danh điện tử cho người dân;

(19) Số lượng tài khoản VNeID của tổ chức, cá nhân;

(20) Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến;

(21) Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên cổng Dịch vụ công quốc gia;

(22) Mức độ hài lòng của người dân đối với các dịch vụ công trực tuyến;

(23) Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình;

(24) Số lượng giao dịch qua Nền tảng điều phối, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP);

(25) Số lượng chứng thư chữ ký số đã cấp;

+ Đánh giá tác động tổng hợp (4 tiêu chí):

(26) Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử;

(27) Chỉ số An toàn thông tin mạng toàn cầu;

(28) Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII);

(29) Chỉ số Phát triển con người (HDI).

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức thu thập, tổng hợp thông tin, dữ liệu phục vụ tính toán, tổ chức đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội; báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ hằng năm hoặc đột xuất khi có yêu cầu.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ và phân công theo Quyết định này, tổ chức thu thập, tổng hợp thông tin, dữ liệu phục vụ tính toán các chỉ tiêu liên quan; gửi kết quả về Bộ Khoa học và Công nghệ trước ngày 15/4 hằng năm. Đồng thời, vận dụng Bộ tiêu chí ban hành theo Quyết định này để đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phù hợp với đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (13/10/2025).

Theo baochinhphu.vn
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Phường Cam Đường (Lào Cai) học tập, trao đổi kinh nghiệm về chuyển đổi số tại phường An Cựu (TP. Huế)

Ngày 19/1, Đoàn công tác của Đảng ủy, UBND phường Cam Đường (Lào Cai) đã đến học tập, trao đổi kinh nghiệm về chuyển đổi số; xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số; phát triển du lịch; triển khai phong trào “bình dân học vụ số” tại phường An Cựu (TP. Huế).

Phường Cam Đường Lào Cai học tập, trao đổi kinh nghiệm về chuyển đổi số tại phường An Cựu TP Huế
Phát huy thế mạnh di sản để phát triển du lịch bền vững

Huế là “thành phố di sản”. Việc bảo tồn và khai thác các giá trị này một cách có chọn lọc và có chiều sâu là hướng đi giúp Huế phát triển du lịch bền vững, hướng đến trung tâm văn hóa - du lịch lớn của khu vực Đông Nam Á, như mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. Huế nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã xác định.

Phát huy thế mạnh di sản để phát triển du lịch bền vững
Tăng cường chuyển đổi số, phát triển du lịch thông minh

Công tác chuyển đổi số của ngành du lịch Việt Nam ngày càng đi vào chiều sâu theo hướng thống nhất, đồng bộ, từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh. Sự chuyển đổi tích cực này đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc hỗ trợ công tác quản lý nhà nước, kinh doanh du lịch và nâng cao trải nghiệm cho du khách.

Tăng cường chuyển đổi số, phát triển du lịch thông minh
Định hình sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo

Định hình các lĩnh vực, sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo có ý nghĩa then chốt để phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (ĐMST), nâng cao vị thế khoa học, công nghệ của TP. Huế. Trao đổi với phóng viên Huế ngày nay Cuối tuần, bà Trần Thị Thùy Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) nhấn mạnh khởi nghiệp ĐMST ở Huế đang chuyển mạnh từ phong trào sang chiều sâu, từ ý tưởng sang sản phẩm tạo ra giá trị thực.

Định hình sản phẩm khởi nghiệp sáng tạo
Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển

Đại hội XIV của Đảng được xác định là một dấu mốc lịch sử của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh. Việc chuẩn bị và xây dựng Văn kiện trình Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là bước tổng kết 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước (năm 1991), 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, mà còn hoạch định tầm nhìn, định hướng chiến lược cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đồng chí Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV đã dành thời gian trao đổi với Báo Nhân Dân về những quan điểm, chủ trương mới, đột phá trong dự thảo các văn kiện.

Bảo đảm Văn kiện Đại hội XIV trở thành động lực đổi mới tư duy và hành động, khơi dậy khát vọng phát triển

TIN MỚI

Return to top