ClockThứ Ba, 01/09/2026 14:26

Thu hẹp khoảng cách giáo dục: Không có công thức chung

Khoảng cách giáo dục giữa vùng thuận lợi với vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới vẫn hiện hữu ở chất lượng dạy học, đội ngũ giáo viên và điều kiện trường lớp. Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, cùng một mục tiêu thu hẹp khoảng cách nhưng điểm nghẽn ở mỗi nơi rất khác nhau, từ thiếu giáo viên, hạ tầng đến điều kiện ăn, ở, đi lại và phạm vi được ưu tiên đầu tư.

Đổi mới hoạt động giáo dục nghệ thuậtMuốn có nhân lực chất lượng cao, cần đổi cách đầu tư cho đại họcRa mắt mô hình “Gia đình hội viên phụ nữ không có trẻ hư, không có người nghiện ma túy”

Các địa phương thuộc vùng khó khăn còn nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục - Ảnh minh họa 

Những rào cản trong tiếp cận giáo dục ở vùng khó

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Lâm Đồng có 100/104 đơn vị cấp xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 27 xã đặc biệt khó khăn, 5 xã biên giới và đặc khu Phú Quý. Toàn tỉnh có hơn 182.000 học sinh dân tộc thiểu số. Quy mô địa bàn và số lượng học sinh lớn khiến những hạn chế vốn tồn tại ở vùng sâu, vùng xa càng trở thành bài toán trực tiếp đối với việc bảo đảm chất lượng giáo dục.

Ông Hồ Văn Mười, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, cho biết địa phương đang tập trung xử lý ba điểm nghẽn: Chênh lệch về chất lượng dạy học và trang thiết bị giữa khu vực thuận lợi với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; thiếu giáo viên ở một số môn như tiếng Anh, tin học, âm nhạc, mỹ thuật và các môn tích hợp; cơ sở vật chất, hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.

Để xử lý những điểm nghẽn này, Lâm Đồng triển khai nhiều giải pháp về đội ngũ, từ tuyển dụng, hợp đồng, điều động, biệt phái đến tổ chức dạy liên trường, phát huy giáo viên cốt cán và sử dụng học liệu số dùng chung. Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến bố trí gần 7.000 tỷ đồng đầu tư trường nội trú, bán trú, thiết bị và hạ tầng số, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

Nhưng khó khăn của học sinh vùng cao không chỉ nằm trong lớp học. Lâm Đồng có nhiều ao, hồ, sông, suối và hồ tưới sản xuất, trong khi mới khoảng 1% số trường có hồ bơi. Từ thực tế này, địa phương đề nghị Chính phủ có đề án phòng, chống đuối nước cho học sinh, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nếu Lâm Đồng cho thấy một loạt thiếu hụt về đội ngũ, hạ tầng và điều kiện học tập, thì Điện Biên đặt thêm một vấn đề khác: Vùng thực sự khó khăn không phải lúc nào cũng trùng với phạm vi được xác định theo địa giới.

Điện Biên đang tập trung phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp nhằm cải thiện điều kiện học tập cho học sinh vùng cao, biên giới. Tỉnh được quy hoạch đầu tư 15 trường, trong đó giai đoạn đầu tập trung 10 trường. Tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn, việc tổ chức học tập, ăn ở tập trung đã giúp giảm bớt trở ngại về khoảng cách địa lý, đồng thời tạo điều kiện tốt hơn cho giáo viên công tác.

Điểm đáng chú ý là khó khăn của Điện Biên không chỉ tập trung ở 15 xã biên giới. Theo ông Lê Văn Lương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, tỉnh còn nhiều xã vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng không nằm trực tiếp trên đường biên giới. Địa phương đề nghị Trung ương, Chính phủ và các bộ, ngành xem xét hỗ trợ đầu tư trường phổ thông nội trú liên cấp tại những khu vực này.

Thực tế tại Điện Biên cho thấy, bên cạnh tiêu chí địa giới, mức độ khó khăn và khả năng tiếp cận giáo dục của học sinh cũng cần được tính đến khi xác định địa bàn ưu tiên đầu tư. 

Khi nguồn lực được thiết kế theo từng nhu cầu

Sau sáp nhập với Quảng Nam, Đà Nẵng phải giải quyết bài toán khoảng cách giáo dục trong một không gian quản lý rộng hơn nhiều. Cùng một thành phố hiện có cả khu vực đô thị phát triển và những địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng tiếp cận giáo dục rất khác nhau.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Đà Nẵng, cho biết Thành phố đã ban hành 13 nghị quyết chuyên đề mới về giáo dục và đào tạo. Các chính sách được chia theo từng nhóm nhu cầu, trong đó trên 150 tỷ đồng hỗ trợ sách giáo khoa; khoảng 50 tỷ đồng hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non tại khu công nghiệp, khu chế xuất; khoảng 70 tỷ đồng hỗ trợ sữa cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; khoảng 60 tỷ đồng hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và người lao động tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, các xã biên giới.

Giai đoạn 2026-2030, Đà Nẵng dự kiến huy động trên 28.000 tỷ đồng để nâng cấp, mở rộng mạng lưới trường lớp và trang thiết bị, phấn đấu ít nhất 80% cơ sở giáo dục phổ thông đạt chuẩn quốc gia vào năm 2030. Thành phố xác định ưu tiên nguồn lực cho miền núi, vùng sâu, vùng xa và địa bàn có điều kiện đặc biệt khó khăn; đồng thời đầu tư phòng học bộ môn, thư viện thông minh, hạ tầng trường học số và tiếp tục khắc phục tình trạng thiếu giáo viên cục bộ.

Cùng đặt mục tiêu đưa nguồn lực đến những nhóm gặp nhiều bất lợi hơn, Quảng Ninh lựa chọn cách hỗ trợ khá trực tiếp vào những chi phí gắn với việc đi học.

Theo ông Bùi Văn Khắng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, mỗi năm học tỉnh bố trí gần 1.000 tỷ đồng cho các chính sách giáo dục đặc thù. Khoảng 36.900 trẻ mầm non và học sinh tại 116 cơ sở giáo dục thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo được hỗ trợ tiền ăn trưa. Khoảng 8.100 học sinh, học viên có điều kiện đi lại khó khăn được hỗ trợ chi phí ăn, ở tập trung và phương tiện đưa đón. Tỉnh cũng dành chính sách hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, học sinh yếu thế và đội ngũ tại các cơ sở giáo dục.

Những khoản hỗ trợ cho bữa ăn, chỗ ở hay phương tiện đưa đón không lớn theo cách nhìn của một dự án đầu tư hạ tầng, nhưng lại gắn trực tiếp với khả năng đến trường của học sinh. Ở những địa bàn xa trường, giao thông khó khăn hoặc gia đình còn nhiều thiếu thốn, khoảng cách giáo dục bắt đầu từ chính những điều kiện rất cụ thể như vậy.

Thực tiễn từ các địa phương cho thấy không thể áp dụng một công thức chung để thu hẹp khoảng cách giáo dục. Nguồn lực vẫn là điều kiện quan trọng, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào việc chính sách có chạm đúng khó khăn của từng địa bàn và từng nhóm học sinh hay không. Khi điều kiện giữa các vùng còn khác biệt, cách đầu tư và hỗ trợ cũng cần linh hoạt hơn để những bất lợi về nơi ở, địa hình hay điều kiện kinh tế không tiếp tục nới rộng khoảng cách về cơ hội học tập.

Theo baochinhphu.vn
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Kiến tạo một xã hội Huế kỷ cương, văn minh từ nền tảng văn hóa và con người

​Ngày 28/8/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Huế ban hành Kế hoạch số 90-KH/TU triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV và Chương trình hành động số 32-CTr/TW của Bộ Chính trị về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Nghị quyết 18-NQ/TW xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược; chuyển mạnh từ tư duy “quản lý xã hội” sang “quản trị và kiến tạo xã hội”, lấy người dân làm trung tâm, văn hóa là nền tảng, pháp luật là trụ cột…

Kiến tạo một xã hội Huế kỷ cương, văn minh từ nền tảng văn hóa và con người
Tăng cường kết nối, hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản

Trong khuôn khổ các hoạt động thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản, ngày 5/9, tại Huế, Trung tâm Xúc tiến hợp tác văn hóa và giáo dục Việt Nam - Nhật Bản (VJCE) phối hợp với Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka tổ chức Chương trình Giao lưu hợp tác, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản năm 2026.

Tăng cường kết nối, hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản
Giáo dục cần đúng người, y tế cần đúng cơ chế

Tại Kỳ họp chuyên đề lần thứ 3 của HĐND thành phố mới đây, nhiều câu hỏi đã được đặt ra: Vì sao ngành giáo dục còn thiếu hàng trăm giáo viên nhưng vẫn phải tính chuyện cắt giảm biên chế? Vì sao các đơn vị y tế được giao tự chủ nhưng không đủ nguồn thu để trả lương? Và nếu ngân sách vẫn phải bù, thì mô hình “tự chủ” liệu có hiệu quả?

Giáo dục cần đúng người, y tế cần đúng cơ chế
Tinh gọn mạng lưới trường lớp, nâng chất lượng giáo dục

Năm học 2026 - 2027, thành phố triển khai sắp xếp mạng lưới trường học phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực giáo dục. Trước thềm năm học mới, ông Nguyễn Tân, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) trao đổi với Huế ngày nay về việc sắp xếp mạng lưới trường học và công tác chuẩn bị cho năm học mới.

Tinh gọn mạng lưới trường lớp, nâng chất lượng giáo dục

TIN MỚI

Return to top