 |
| Bình yên xứ Truồi. Ảnh: Xuân Lê |
Trong căn nhà nhỏ của bạn ở thôn Nam Phổ Hạ, học theo sông, tôi truồi người từ đầu non về cuối bể, thong dong qua những bãi bờ, gọi tên những cây lành trái ngọt đã hàng trăm năm làm dâu ở rể đất này. Nam Phổ Hạ, cái tên nhắc nhớ về làng Nam Phổ trên Huế.
Vào khoảng thế kỷ XVIII, đời các chúa Nguyễn, một số cư dân làng Nam Phổ đã đưa nhau về xứ Truồi khai phá ruộng đất, lập nên các làng Nam Phổ Hạ, Nam Phổ Cần (cùng với cư dân làng Hương Cần). Nghe nói vùng đồi núi Nam Phổ Cần xưa có nhiều mỏ vàng, nên còn gọi là độn (động) Vàng. “Ngó lên Độn Vàng dạ chàng bát ngát/ Ngó về Bàu Bạc ruột nát gan khô/ Trăm năm chàng không bỏ nghĩa thiếp mô/ Thiếp chớ ưu sầu vào dạ mà héo khô gan vàng...”.
Người dân nơi đây ngoài cần cù, chịu thương chịu khó tạo dựng mênh mông những nương vườn chè, dâu, thơm, mít…, làm nên danh hương sản vật xứ Truồi còn có thêm nghề khai thác vàng, nhiều đời còn lưu dấu. Suốt gần 200 năm cư dân ba vùng Nam Phổ này vẫn cùng ăn chia ruộng đất chung một địa bộ, đến năm 1815 đời Gia Long mới đồng thuận ra riêng. Mà đâu chỉ có Nam Phổ, cư dân nhiều làng Huế cũng đã về đây khai phá, hình thành các làng mạc dọc theo sông Truồi: làng Bao Vinh, Lại Thế, Vỹ Dạ, Quê Chữ… Nghe như những ngôi làng văn vật thân thuộc bên sông Hương.
Quả thật, Truồi như một phiên bản chị em của Huế. Sông Hương là sông chị, sông Truồi là sông em. Nếu như sông Hương bắt nguồn từ núi rừng A Lưới, trải một hành trình vạn dặm qua những thác ghềnh, dịu êm qua Kinh thành Huế, nhập vào phá Tam Giang rộng lớn rồi ra cửa biển Thuận An; thì sông Truồi bắt nguồn từ rặng núi Bạch Mã, chảy qua những làng mạc phì nhiêu, những ruộng vườn xanh tốt trước khi đổ vào đầm Cầu Hai rồi ra với biển qua cửa Tư Hiền.
Cái cách mà cả sông Hương và sông Truồi hẹn hò với biển ở nơi vùng đầm phá mênh mông ấy đã tạo nên những loài tôm cá nước lợ ngon lạ kỳ: cá hanh, cá nâu, cá dìa, cá dầy, cá kình… Buổi sáng thức dậy trên đầm Cầu Hai, vợ chồng chủ đò đãi chúng tôi một bữa cháo cá kình “ngon nhức răng”, chỉ có thể khiến tôi chợt nhớ về tô cháo cá nâu “sống lâu trăm tuổi” từng được thưởng thức trên phá Tam Giang một ngày nọ. Tôi đã có những buổi chiều ngồi đò ngược xuôi sông Truồi, vui cùng những kỷ niệm bên sông của bạn ngày thơ dại.
Trên Huế, tôi có những ngày hè tắm nước sông Hương, bơi từ Gia Hội qua Cồn Hến, nghe tiếng đò ngang lạch phạch đưa các dì, các chị sớm chiều gánh gồng qua chợ. Chính vì vậy nên tuy ở bên Gia Hội mà lại là chợ Cồn, bến đò Cồn. Dưới Truồi, bạn có những buổi chiều bơi qua bên kia sông Hưng Bình, chỉ để giây lát tấp lên bến sông nhìn mặt người con gái ngồi giặt áo. Bơi qua rồi lại bơi về, day dưa da thịt phù sa sông mát lạnh, rồi cũng đến một ngày lớn lên thành nhà trai Nam Phổ Hạ mang theo khay dâu tiên chín mọng môi son vòng qua Miêu Nha hỏi cưới, cứ vậy mà thành nhân nghĩa trăm năm bờ bãi với sông Truồi.
Tôi có những buổi chiều truồi người lang thang Bàn Môn, ngôi làng cuối nước, nơi sông Truồi chia thành hai nhánh, sông Cửa Khẩu Lớn và sông Cửa Khẩu Nhỏ, trước khi đổ vào đầm Cầu Hai. Bàn Môn, nghĩa là “cửa khẩu quy tụ phù sa của sông suối, sình lầy của đầm phá, giữ lại chất màu mỡ bồi trúc thành ruộng đất phì nhiêu để dân làng đời đời hưởng thụ” (1). Từ Bàn Môn nhìn lên có thể thấy núi Truồi cao vợi, còn gọi là núi Ấn, hay Ấn Lĩnh.
Tương truyền, trong một chuyến thị sát, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nhìn về phương Nam thấy một ngọn núi cao sừng sững, hình dáng như cái ấn (triện), người không thôi thao thức về sứ mệnh lớn lao mà Chúa Tiên hằng giao lại, lập quốc vương bền vững “vạn đại” ở phương Nam, nên đặt tên là Ấn Lĩnh. Ngọn núi phương Nam ấy, chúa vẫn thường hướng về trong những dịp lễ tế cáo Trời Đất, Tổ Tiên. “Núi Truồi ai đắp mà cao...”, phải chăng chính là sự linh thiêng từ đó.
Từ cuối nguồn sông Hưng Bình nhìn lên núi Ấn, “Cuối nước vọng đầu non/ Nước trời sâu mắt đọng” hình thành nên một vùng đồng bằng rộng lớn dọc dài hai bên sông, gọi là xứ Truồi. Thực ra, từ thế kỷ XVII trở về trước, đất đai xứ Truồi (nay là xã Lộc An) vẫn chưa được bồi tụ nhiều, do vẫn còn là vùng đất ngập nước phá Hà Trung (tên cũ của Cầu Hai) “Phá Hà Trung rộng lớn không thấy bờ, không biết bao nhiêu mẫu khoảnh, dân cư ở vòng quanh bốn bề” (2).
Từ cuối thế kỷ XVII trở đi, đầm Cầu Hai cạn dần, đất đai được sông Truồi bồi đắp phù sa dần dần trở thành vùng đồng bằng màu mỡ phì nhiêu, thuận lợi cho các cư dân người Việt đến khai phá và sinh sống. Trong số những lý giải tên Truồi, tôi thích nhất là giả thuyết Truồi do đọc trại từ chữ “Chồi” mà thành, một từ thuần Việt do chính người Việt đặt tên cho một vùng đất miền Hóa Châu trù phú, cây cối xanh tươi bốn mùa đâm chồi nảy lộc cho đến tận ngày nay.
Mà đâu chỉ có Truồi. Bao nhiêu vùng đất, bao nhiêu quê xứ này, nào Nong, Nọ, Nịu, Sình, Sịa, Chuồn, Sam... từ bao giờ đã song hành và lớn lên cùng Hóa Châu, cùng Huế. Truồi như một Huế thu nhỏ, từ sông dài tựa lưng núi thẳm, từ một nền văn hóa trầm tích cuối nước đầu non, những phù sa huyền thoại đôi bờ, những cây lành trái ngọt dâng an yên và Phú Lộc muôn đời. “Nong lên Truồi lên” là một ví von trong dân gian, nhưng tôi không thích kiểu ngụ ý rằng “anh thách thì tui cũng thách lại anh”, rằng khi hàng hóa chợ Nong lên giá thì chợ Truồi cũng lên. Chợ Nong, chợ Nọ, chợ Sịa, chợ Truồi…, ôi những ngôi chợ Huế, những đầu mối giao thương trên bến dưới thuyền văn vật giong khắp xứ. Tại sao không lý giải, theo lối nói kinh tế thời nay, rằng Nong Truồi “win-win”, hai bên cùng lên, thì có phải là hơn không?
Tôi ngồi thuyền đi trên sông Hưng Bình ngày sau lũ. Dấu tích nước bạc đọng lên đến tận những ngọn tre làng đôi bờ từ Nam Phổ Cần về tới Bàn Môn. Những đoạn bờ sông, đê đập sạt lở. Những tuyến đường giao thông sụt lún. Bùn non còn đọng trên hoa văn nếp cổng nhà thờ họ tộc. Nhưng ngày nắng lên rồi! Tôi nghe thấy từ xứ này, những lở bồi trăm năm từ thuở tiền nhân “tiền khai canh”, “giang đê vệ nông” cho đến lớp lớp hậu thế vệ quốc công thần, bách tính lương dân nắng sương đồng bãi..., vọng khúc ru thầm thì từ đáy sông, những đời người, đời Truồi thao thiết, như phù sa mùa nối mùa bồi đắp. Như lộc an chồi non thành tên xứ.
Tôi nghe thấy nắng Nong lên Truồi lên.
Theo ngày Huế lên.
(1) Hoàng Xuân Nhu (1990), Bàn Môn một di tích lịch sử - văn hóa, Nxb Thuận Hóa, Huế.
(2) Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục