ClockChủ Nhật, 07/12/2025 09:58

Đi tìm “thơm” trong câu ca dao xứ Truồi

HNN - Là người con sinh ra và lớn lên giữa lòng xứ Truồi - vùng đất nằm bên dòng sông Hưng Bình hiền hòa, thuộc xã Lộc An, tôi luôn mang trong mình niềm tự hào sâu sắc về quê hương trù phú, nơi mít, chè, dâu tiên… từng làm nên danh tiếng của một “xứ” riêng giữa lòng xứ Huế.

Khi chị em làm kinh tếTìm hướng đi cho chè Truồi

 Dâu xứ Truồi. Ảnh: khamphahue.com

Thế nhưng, khi đọc lại câu ca dao quen thuộc: “Xứ Truồi mít ngọt, thơm dâu/Anh đi làm rể ở lâu không về”, tôi bỗng băn khoăn: “Thơm” trong câu ấy là gì? Có phải “thơm” là hương vị của trái dâu tiên nức tiếng mà nhiều người vẫn nhắc? Hay là một loại cây khác - cây thơm (dứa) - từng phủ khắp các vườn Truồi xưa? Và sâu xa hơn, “thơm” có phải chỉ là hương vị vật chất, hay còn là một tầng nghĩa văn hóa, biểu tượng tinh tế trong ca dao Việt?

Dấu vết của một loài cây dân dã

Ngày nay, khi nhắc đến xứ Truồi, người ta thường nhớ đến mít và dâu tiên. Dâu tiên Truồi có vị ngọt thanh, khi chín vàng pha hồng rất duyên, nhưng hoàn toàn không tỏa hương thơm như nhiều bài báo từng mô tả. Có lẽ vì hiểu nhầm từ “thơm” trong câu ca dao, người ta đã vô tình “ban” cho dâu tiên một mùi hương mà nó không hề có.

Theo ký ức của những người cao tuổi xứ Truồi, xưa kia trong mỗi khu vườn mít, chè, dâu đều có trồng xen rất nhiều cây thơm - tức dứa. Người dân thường trồng thành hàng ở ranh giới giữa các khu vườn như hàng rào gai tự nhiên: “Ngỡ là cây dứa không gai/Chả hay gai dứa lại dài hơn chông”.

Cây thơm cho trái vàng, vị ngọt dịu, chua thanh, là nguyên liệu quen thuộc trong đời sống ẩm thực. Trẻ con Truồi xưa còn dùng lá thơm làm vương miện, làm đồng hồ trong những trò chơi đồng quê.

Thầy giáo Nguyễn Văn Toản (làng Nam Phổ Cần) kể lại: Trước đây, nhà nào cũng có vài ba cụm thơm. Loại quả này không chỉ làm thực phẩm mà còn là “hồn quê” của xứ Truồi - thứ hương vị dân dã, vừa chua vừa ngọt, vừa dân dã vừa tinh tế.

Từ đó có thể khẳng định: “thơm” trong câu ca dao không phải nói về mùi hương của dâu tiên hay mít, mà chính là loài cây thơm (dứa) từng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Truồi. Bởi vậy, khi ca dao nói: “Xứ Truồi mít ngọt, thơm dâu”, thì đó là lời ca ngợi ba loại cây trái tiêu biểu của vùng đất này - mít, thơm và dâu tiên - ba hương vị kết tinh của phù sa Hưng Bình và bàn tay lao động cần cù của người dân địa phương.

Từ “thơm” của quả đến chiều sâu biểu tượng 

Tuy nhiên, ca dao Việt Nam không bao giờ chỉ dừng ở miêu tả hiện thực. Dưới lớp vỏ ngôn từ dân dã ấy, “mít ngọt, thơm, dâu” còn ẩn chứa tầng nghĩa biểu tượng - ca ngợi vẻ đẹp, sức sống và sự quyến rũ của người con gái xứ Truồi. Người xưa vốn tinh tế trong cách nói. Họ không nói thẳng về tình yêu hay thân thể, mà mượn hình ảnh hoa trái, giếng nước, ruộng đồng để gợi ra tính nữ, thiên chức sinh nở, sức sống âm tính của người phụ nữ.

Với tinh thần ấy, ta hiểu rằng trong câu ca Truồi, “mít ngọt, thơm, dâu” chính là hình biểu tượng của vẻ đẹp, sức sống và tình yêu của người nữ.

Mít Truồi - ngọt lịm, dẻo dai, tượng trưng cho sự trù phú, ngọt ngào. Dâu tiên - trái nhỏ, duyên dáng, kết từng chùm - là nét e ấp, dịu dàng. Và “thơm” - chua ngọt hài hòa, gai góc mà quyến rũ - gợi nên nét mạnh mẽ, sắc sảo nhưng cũng rất đằm thắm của người phụ nữ Huế.

Như vậy, “mít - thơm - dâu” không chỉ là ba thứ quả đặc trưng, mà là ba tầng biểu tượng của nữ tính xứ Truồi: ngọt ngào - duyên dáng - nồng nàn.

Nếu câu đầu là lời ca ngợi cảnh và người, thì câu sau lại là tiếng lòng của tình yêu: “Anh đi làm rể ở lâu không về”.

Lời ca nghe như trách móc mà chan chứa thương nhớ. Ẩn sau đó là nỗi chờ đợi của người con gái, là sự thiếu vắng của “năng lượng dương” - hình ảnh người nam - trong thế giới “âm tính” trù phú của xứ Truồi. Sự “ở lâu không về” thể hiện khát vọng tái hợp, hòa quyện âm dương - biểu hiện của mong ước hạnh phúc, sum vầy, viên mãn trong tình yêu và cuộc sống.

Ngày nay, đi dọc hai bờ Hưng Bình, vẫn thấy những miệt vườn xanh ngát, nhưng cây mít, cây dâu, cây thơm - những biểu tượng từng đi vào ca dao - đã thưa thớt dần. Mùi hương ngày cũ phai theo bụi thời gian.

Câu ca không chỉ là một lời ngợi ca quê hương, mà còn là ký ức văn hóa, là “chứng nhân” của một nền nông nghiệp sinh thái - nơi con người, cây trái và văn hóa hòa làm một.

Giữ gìn cây thơm, cây mít, cây dâu hôm nay không chỉ là bảo tồn giống cây quý, mà là bảo tồn linh hồn của xứ Truồi, bảo tồn tinh thần dân gian đã hóa thân vào ca dao, tục ngữ, vào từng lời ru, câu hò trên bến sông Hưng Bình.

Lời ca ấy vẫn như còn vương trong gió, gợi mùi hương của một vùng quê đã đi vào huyền thoại - nơi “thơm” không chỉ tỏa hương từ quả, mà còn tỏa hương từ lòng người.

Ngô Công Tấn
ĐÁNH GIÁ
5
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Chè sấy, hướng đi mới cho đặc sản xứ Truồi

12h đêm, anh Hoàng Viết Thắng (xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc) vẫn lầm lũi trong căn bếp. Đôi tay quen với công nghệ, kỹ thuật chà xát những chiếc lá chè âm ẩm trên tay. Sau 3 năm, giấc mộng “nâng tầm” cho chè Truồi của anh thành hình, biến chè tươi thành sản phẩm chè sấy với vị hương đặc trưng của nơi chôn nhau cắt rốn.

Chè sấy, hướng đi mới cho đặc sản xứ Truồi
Ăn xổi

Biết chúng tôi sắp về quê, mấy người bạn dặn mua giúp vài ký dâu Truồi để ăn và làm quà.

Ăn xổi
Dâu Truồi mất mùa

Thời gian này năm 2018, có dịp đến chợ Truồi, nhan nhản khắp chợ là đặc sản dâu Truồi. Năm nay, cả khu chợ vắng bóng dâu, các hộ dân trồng dâu buồn rầu bên những gốc cây đặc sản. Nỗi lo của họ không chỉ dừng lại ở đó…

Dâu Truồi mất mùa
Dâu búng

Lâu lắm rồi mình mới gặp lại dâu búng. Quýnh quáng chạy đi mua kẻo sợ mất phần đến nỗi quên luôn điện thoại ở phòng làm việc. Đến khi cầm cái thứ quả rừng ấy trên tay mới hết cảm giác hồi hộp. Cũng lạ, chả hiểu sao hồi hộp như gặp người quen cũ thân thiết lắm bởi lần này sợ “lướt” qua “em nó” chỉ nhìn được hình ảnh người ta chụp thôi mà không sở hữu được chắc là tiếc rụng tóc!

Dâu búng
Đất lành Lộc Hòa

Tròn ba mươi năm, giờ đây, Lộc Hòa (Phú Lộc) không còn là vùng “kinh tế mới” của những người dân xứ Truồi lên khai hoang lập nghiệp...

Đất lành Lộc Hòa

TIN MỚI

Return to top