 |
| Chiều 7/5/1954, lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, đánh dấu thời khắc của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Ảnh: Tư liệu |
Quyết tâm “chia lửa”
Tháng 5/1953, trước nguy cơ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh. Ngay khi đến Đông Dương, Nava đã đề ra kế hoạch quân sự mang tên ông ta, với hy vọng trong 18 tháng sẽ giành thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”. Thực hiện kế hoạch Nava, từ giữa năm 1953, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân 1953 -1954, quyết định huy động đến mức cao nhất các lực lượng và khả năng kháng chiến của quân và dân ta, khai thác triệt để những yếu điểm của địch để giành thắng lợi. Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ của vùng sau lưng địch như Bình - Trị - Thiên là đẩy mạnh chiến tranh du kích để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ.
Tại Chiến khu Dương Hòa, ngày 19/10/1953, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế tổ chức hội nghị quán triệt tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị, khẳng định quyết tâm “chia lửa” cho chiến trường chính bằng đẩy mạnh tấn công tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; kìm chân không cho chúng rảnh tay đối phó và hỗ trợ cho chiến trường chính; tích cực đấu tranh chính trị kết hợp diệt ấp, phá tề, phá thế kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng.
Đấu tranh chính trị tích cực và hiệu quả
Huế đã “chia lửa” cho chiến trường chính bằng những hoạt động đấu tranh chính trị hiệu quả. Ở nhiều địa phương, bà con nhân dân đấu tranh trực diện với địch, chống bắt lính. Chỉ trong thời gian ngắn, đã có 560 ngụy binh đào ngũ. Ở một số đơn vị quân ngụy còn xảy ra hiện tượng binh lính đấu tranh để khỏi bị điều đi hành quân càn quét. Phổ biến lúc bấy giờ trong dân gian là câu nói phản ánh tâm trạng của người lính ngụy: “Không đi sợ bị tình nghi/ Đi thì lại sợ Đồng Di, Tây Hồ”. Đồng Di và Tây Hồ là những tên làng ở xã Phú Hồ - những nơi có lực lượng kháng chiến mạnh mà kẻ địch rất e sợ mỗi khi được lệnh hành quân vào đó.
Thành phố Huế (cũ) là nơi nổi bật trong cuộc đấu tranh binh vận. Ta đã phát 3 vạn truyền đơn, viết 4.000 khẩu hiệu và thành lập 18 tổ loa tuyên truyền, tập trung vào việc kêu gọi ngụy quân về với Nhân dân. Trong tháng 1/1954, đã có 421 gia đình nơi đây gọi được người thân rời bỏ hàng ngũ địch. Ở khu vực huyện Quảng Điền (cũ), ngày 23/12/1953, Nhân dân đấu tranh buộc địch phải thả 713 người trong tổng số 819 người bị chúng bắt đi lính. Ngày 15/2/1954, có 150 lính ngụy ở đồn Đại Lộc bỏ đồn và mang 180 súng về với kháng chiến.
Tại Phong Điền (cũ), Huyện ủy đề ra chủ trương, yêu cầu cán bộ và đảng viên nào có bà con thân thích đi lính cho Pháp thì gọi về ngay. Các xã tích cực tổ chức binh vận, ngụy vận do thanh niên thực hiện, ban ngày lân la trò chuyện với binh lính, ban đêm gọi loa, thúc giục họ bỏ ngũ. Hàng ngàn người dân ở Phong Nhiêu, Phong Thái kéo về An Lỗ đấu tranh đòi chồng con trở về. Người dân Phong Chương, Phong Dinh cũng đã kéo vào đồn Phò Trạch, yêu cầu địch ký hiệp ước hòa bình.
Không cho địch dồn sức vào mặt trận chính
Ngay giữa tháng 12/1953, bộ đội ta đã đánh sập nhiều cầu ở Quốc lộ 1A, phục kích 2 đoàn tàu quân sự ở Lăng Cô, giết chết và làm bị thương 40 tên địch. Cũng tại Lăng Cô, ngày 19/12, ta lại đánh đổ nhào 1 đoàn tàu khác, tiêu diệt 100 tên địch. Liên tục vào dịp Tết Giáp Ngọ (1954), quân và dân huyện Hương Trà (cũ) tổ chức đánh nhiều đồn địch ở Văn Thánh, Võ Thánh, Niêm Phò, Phú Bài, Kim Long, An Hòa, Nam Phổ Hạ, Nguyệt Biều và hệ thống đồn bốt địch dọc bờ biển. Tính trong 3 tháng đầu năm 1954, quân và dân Thừa Thiên Huế đã đánh 302 trận, trong đó có 32 trận chống càn.
Ngày 16/4/1954, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu IV họp với các tỉnh ủy, bàn việc đẩy mạnh công tác phối hợp với đợt 2 Chiến dịch Điện Biên Phủ và quyết định tăng cường lãnh đạo chống càn; đẩy mạnh công tác vùng tạm chiếm, làm cho đông đảo quần chúng đồng tình với lập trường kháng chiến và ngoại giao của ta để đứng về phe kháng chiến, tin tưởng và ủng hộ Hồ Chủ tịch và Chính phủ ta, ủng hộ lập trường của ta trong Hội nghị Geneve.
Ngay sau đó vào ngày 28/4/1954, bộ đội địa phương tiến công một loạt các lô cốt từ Ưu Điềm đến Vân Trình (Phong Điền) và các xã Quảng Ninh, Quảng Hòa và Quảng Đại (Quảng Điền), 200 tên địch bị tiêu diệt. Trên các tuyến giao thông, cầu Nước Ngọt (Phú Lộc) bị phá, đoàn tàu thứ 29 bị đánh nhào ở đèo Hải Vân. Du kích Hương Thủy dùng hình thức tập kết đánh lô cốt địch bên cạnh cách đánh thông thường là cạm bẫy, địa lôi, bom mìn. Du kích Lương Mai liên tục bao vây vị trí địch, buộc chúng phải dùng máy bay để rút quân.
Ngày 7/5/1954, quân ta thắng lớn ở Điện Biên Phủ lịch sử. Thắng lợi rực rỡ này có đóng góp to lớn của quân dân Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế). Cùng với cả nước, những hoạt động quân sự và chính trị không mệt mỏi trong Đông Xuân 1953 - 1954 của Thừa Thiên Huế, đúng như đánh giá của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị chính là “sự phối hợp chiến lược rộng khắp tạo điều kiện rất thuận lợi cho mặt trận Điện Biên Phủ”.