 |
| Cán bộ Phòng Nghiên cứu khoa học tu bổ, phục chế tài liệu tại lầu Tàng Thơ. |
Tỉ mỉ từng công đoạn
Trong buổi giới thiệu quy trình tu bổ, phục chế tài liệu lưu trữ dành cho học sinh tham quan triển lãm “Cửu Đỉnh Triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ - Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” tại lầu Tàng Thơ mới đây, chúng tôi có dịp tận mắt chứng kiến những người làm công tác bảo quản tái hiện từng công đoạn phục chế một tài liệu cổ.
Trên bàn làm việc, một tờ tài liệu đã úa vàng theo thời gian được đặt ngay ngắn. ThS Hồ Ngọc Thạch, cán bộ Phòng Nghiên cứu khoa học cùng đồng nghiệp cẩn thận vá dán, bồi nền trang tư liệu bị hư hỏng.
“Phải thật cẩn thận, chỉ cần mạnh tay một chút là mất luôn phần chữ”, ông Thạch vừa nói vừa nhẹ nhàng quét lớp hồ CMC trên lớp giấy dó trước khi "gá" tài liệu hư hỏng vào để tu bổ.
Theo ông Thạch, tài liệu quý không phải bởi bản thân những tờ giấy, mà là thông tin chứa bên trong. “Chỉ cần ghép sai một chữ, cũng có thể làm sai cả nội dung lịch sử”.
Bóc tách và nhận diện đúng vị trí từng mảnh giấy hư hỏng là công đoạn khó trong toàn bộ quy trình tu bổ, phục chế. Khi nhiều sắc phong hoặc tài liệu bị cuộn chung trong thời gian dài, giấy mục nát, mực nhòe và các lớp giấy dính chặt vào nhau, việc khôi phục nguyên trạng đòi hỏi không chỉ sự tỉ mỉ mà còn cần người có kiến thức về tư liệu Hán Nôm để đối chiếu, xác định chính xác nội dung của từng tài liệu.
Hiện công tác lưu trữ, tu bổ và bảo quản tài liệu của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế do cán bộ thuộc Phòng Nghiên cứu khoa học đảm nhiệm tại lầu Tàng Thơ.
Năm 2018, từ thực tế nhiều tài liệu quý bị xuống cấp nghiêm trọng, Trung tâm đã hợp tác với Trung tâm Lưu trữ quốc gia I để tiếp nhận kỹ thuật tu bổ và bảo quản tài liệu lưu trữ. Sau khóa đào tạo tại chỗ, đội ngũ cán bộ bắt đầu tự thực hiện công tác phục chế đối với khối tài liệu đang lưu giữ tại lầu Tàng Thơ.
Kho tư liệu của lầu Tàng Thơ hiện lưu giữ nhiều loại tài liệu quý như các bộ sử Triều Nguyễn, sách nghiên cứu lịch sử, văn hóa, tôn giáo, hồ sơ di tích, địa bạ, châu bản cùng nhiều nguồn tư liệu có giá trị khác.
Nhưng với những người làm công tác tu bổ, phục chế, mỗi tài liệu lại có một “bệnh án” khác nhau. Có tài liệu chỉ rách mép giấy. Có tài liệu mục nát thành từng mảnh. Có những cuộn sắc phong nhiều đời được cất giữ cùng nhau, lâu ngày dính chặt thành một khối.
“Ở nhiều đình làng, người ta cuộn bốn, năm sắc phong lại với nhau để cất. Qua thời gian, giấy mục, mực lem, các lớp dính chặt. Khi mở ra, nội dung của từng sắc phong lẫn vào nhau. Muốn phục chế phải vừa bóc tách vừa xác định từng mảnh thuộc tài liệu nào”, ông Thạch nói.
Sau khi bóc tách, tài liệu được vệ sinh bằng dung dịch cồn pha nước theo tỷ lệ phù hợp nhằm loại bỏ nấm mốc, bụi bẩn và phần giấy đã mục.
Tiếp đó là công đoạn định hình lại khổ giấy trước khi tiến hành tu bổ. Nếu tài liệu chỉ rách nhẹ sẽ được vá dán. Nếu giấy đã quá yếu, dễ gãy nát thì phải bồi nền bằng giấy dó có chất liệu tương đồng để gia cố. Với những tài liệu còn tương đối tốt, nhóm sử dụng hồ CMC nhằm tăng độ liên kết mà không làm ảnh hưởng đến tài liệu gốc.
Sau khi hoàn thành, tài liệu được cố định trên tấm mica rồi phơi trong điều kiện nhiệt độ và ánh sáng phù hợp. Khi khô, người tu bổ sẽ tiếp tục cắt xén, đóng lại thành quyển hoặc đưa về hình dạng ban đầu.
Đem kỹ thuật phục chế đến cộng đồng
Theo Phòng Nghiên cứu khoa học, Huế hiện còn lưu giữ số lượng lớn tư liệu Hán Nôm từ thời Lê đến Triều Nguyễn. Phần lớn nằm tại các đình làng, nhà thờ họ, tư gia các gia đình hoàng tộc và nhiều dòng họ lâu đời.
Đó đều là những tài liệu độc bản, ghi lại lịch sử làng xã, sắc phong của các vua, gia phả, hương ước, khế văn... được xem như báu vật của cộng đồng.
Tuy nhiên, tuổi đời hàng trăm năm cùng khí hậu nóng ẩm đặc trưng của Huế khiến nhiều tài liệu xuống cấp nhanh chóng. Ba nguyên nhân chính khiến tư liệu hư hỏng là tuổi đời quá cao, thời tiết nhiều mưa ẩm và phương pháp bảo quản chưa phù hợp với từng chất liệu. Bên cạnh đó nấm mốc, gián, bọ cánh cứng, mối, chuột... đều là những tác nhân trực tiếp phá hủy giấy.
Hiện, không ít nơi, tài liệu vẫn được bảo quản theo cách thủ công. Có đình làng để sắc phong trong hòm gỗ, cuộn nhiều lớp rồi cất nhiều năm liền. Có nơi đặt ngay trên gác mái, nơi nhiệt độ và độ ẩm thay đổi liên tục. Khi được mở ra thì giấy đã mục, chữ nhòe, nhiều tài liệu không còn khả năng phục chế.
Do vậy, song song với thực hiện nhiệm vụ tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, nhiều năm qua, nhóm tu bổ còn hỗ trợ các địa phương, dòng họ và đình làng trong việc bảo quản di sản tư liệu.
Trước đó, nhóm đã giúp đình làng Cổ Bưu (phường Hương An) tu bổ sáu sắc phong bị hư hỏng nặng. Đồng thời, phối hợp với Thư viện Tổng hợp thành phố tổ chức hai đợt tập huấn kỹ năng bảo quản tài liệu Hán Nôm cho hơn 200 đại diện các làng và dòng họ tại Quảng Điền và Phú Lộc. Đến nay, đã tập huấn 5 lớp tại các địa phương. Ngoài ra, nhóm đã tham gia phục chế 15 sắc phong Triều Nguyễn (trên giấy Long Đằng) cùng hàng chục hương ước, khế văn (viết trên giấy dó).
Theo ông Thạch, điều quan trọng không chỉ là phục chế mà còn giúp người dân biết cách bảo quản.
Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Hoàng Việt Trung cho rằng, giá trị của di sản không chỉ nằm ở hiện vật mà còn nằm trong những tài liệu gốc ghi lại thông tin lịch sử.
Đó là các sắc phong, châu bản, thư tịch, địa bạ... chứa đựng những tư liệu độc bản mà nếu mất đi trước khi được số hóa thì nguồn thông tin ấy cũng sẽ mất theo. Vì vậy, tu bổ và bảo quản tài liệu chính là gìn giữ những “tài liệu mang tin”, để thế hệ hôm nay và mai sau vẫn còn cơ hội tiếp cận những chứng tích xác thực của lịch sử.