ClockChủ Nhật, 09/08/2026 14:32

“Đòn bẩy”cho công nghiệp dược liệu

Sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú cùng nền y học cổ truyền lâu đời, hiện nước ta có thể xây dựng một ngành công nghiệp dược liệu hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế. Nhưng để biến tiềm năng thành hiện thực cần nhiều cơ chế, chính sách, trong đó khoa học, công nghệ và chuyển đổi số được xác định đóng vai trò quan trọng.

Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án trồng rừng gỗ lớn kết hợp dược liệuNghệ trắng và triển vọng hỗ trợ điều trị ung thư dạ dàyPhát triển kinh tế dược liệu ở Huế

Vùng trồng cây Actiso của Công ty Traphaco Sapa đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. (Ảnh: HOÀNG TIẾN) 

Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, với hơn 5.100 loài thực vật và nấm làm thuốc cùng hàng trăm loài động vật, khoáng vật được sử dụng trong y học cổ truyền. Từ tư tưởng “Nam dược trị Nam nhân” của Đại danh y Tuệ Tĩnh đến những cống hiến của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Việt Nam đã hình thành kho tàng tri thức y học cổ truyền phong phú và mạng lưới y học cổ truyền được tổ chức tương đối đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Những năm qua, mạng lưới bảo tồn nguồn gen tại nhiều vùng sinh thái trên cả nước đã, đang lưu giữ 964 nguồn gen thuộc 642 loài cây thuốc, trong đó nhiều loài quý như: Sâm Ngọc Linh, Sâm Lai Châu, Hà thủ ô đỏ, Trà hoa vàng... Đi liền với đó, hoạt động nghiên cứu phục tráng, nhân giống đang được chú trọng khi đã có khoảng 70 loài, nhóm loài có tiềm năng khai thác, với trữ lượng ước tính 18.372 tấn/năm, trong đó 45 loài có tiềm năng khai thác lớn... Tổng diện tích phát triển cây dược liệu cả nước ước đạt 357.178ha, với khoảng 150 loài được nhân trồng. Vùng Đông Bắc có hơn 46ha; Nam Trung Bộ có 15.498ha; Tây Nguyên hơn 13.000ha, các vùng còn lại có hơn 11.000ha.

Thực tế, Việt Nam không thiếu nguồn nguyên liệu và cũng đã có nền tảng nhất định về bảo tồn, giống và vùng trồng. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, kết quả ở đầu vào mạnh, nhưng đầu ra chưa tương xứng. Hiện mới có 58 loài dược liệu được nuôi trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO, với diện tích khoảng 375ha và sản lượng dự kiến 1.400 tấn mỗi năm. So với tổng diện tích hơn 357.000 ha, diện tích được chuẩn hóa còn rất nhỏ; phần lớn dược liệu vẫn được khai thác, nuôi trồng, thu hái và sơ chế bằng phương pháp truyền thống.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Ngọc, Viện trưởng Viện Dược liệu (Bộ Y tế), đối với thuốc, nguyên liệu không chỉ cần đúng tên cây, đúng bộ phận sử dụng, còn phải ổn định về thành phần hóa học, hàm lượng hoạt chất, độ tinh khiết và mức độ an toàn. Khi chất lượng nguyên liệu đầu vào chưa đồng đều, rất khó tạo ra sản phẩm thuốc có chất lượng ổn định. Trong khi đó, phần giá trị cao nhất của dược liệu đều nằm ở nghiên cứu hoạt chất, xác định cơ chế tác dụng, chiết xuất, tinh chế, chuẩn hóa, bào chế và chứng minh hiệu quả, độ an toàn của sản phẩm. 

Nói cách khác, chúng ta có nhiều cây thuốc, nhưng chưa tạo ra được nhiều thuốc tốt từ cây thuốc, vẫn dừng lại ở khâu trồng, thu hái và cung cấp nguyên liệu, trong khi những khâu tạo ra giá trị gia tăng cao như: Công nghệ chiết xuất, bào chế hiện đại, bằng chứng khoa học, sở hữu trí tuệ và thương hiệu sản phẩm còn hạn chế... Việc áp dụng các tiêu chuẩn GACP-WHO, GMP (Thực hành tốt sản xuất), GLP (Thực hành tốt phòng thí nghiệm), GSP (Thực hành tốt bảo quản thuốc) chưa được triển khai đồng bộ trong toàn chuỗi; năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu. Không ít nhiệm vụ khoa học mới dừng lại ở công bố, mô hình thử nghiệm.

Theo ông Nguyễn Việt Hùng, Tổng Giám đốc Công ty Dược liệu Gia Định, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do công nghiệp dược liệu chưa được nhìn nhận đầy đủ như một ngành kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Trong nhiều trường hợp, dược liệu vẫn chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ cây thuốc hoặc sản phẩm của y học cổ truyền. Trong khi đó, thế giới đã đặt dược liệu trong mối liên hệ với công nghệ sinh học, công nghiệp dược liệu, trong thực phẩm chức năng, nông nghiệp thông minh và thị trường chăm sóc sức khỏe.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá để phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Cùng với Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW là nền tảng thể chế quan trọng để các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao, trong đó có công nghiệp dược liệu, chuyển từ phát triển dựa vào tài nguyên sang phát triển dựa vào công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, tìm giải pháp cho ngành dược liệu, khoa học và công nghệ cần được ứng dụng xuyên suốt từ nguồn gen, giống, vùng trồng đến chiết xuất, bào chế, kiểm nghiệm và sản xuất thuốc.

Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Ngọc, khoa học, công nghệ là nền tảng quan trọng nhất để phát triển công nghiệp dược liệu theo hướng hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh quốc tế. Do vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong toàn bộ chuỗi giá trị dược liệu, từ nghiên cứu, nuôi trồng, chế biến đến sản xuất thuốc; nghiên cứu khoa học phải gắn với thực tiễn sản xuất, ứng dụng hiệu quả và tạo ra sản phẩm cụ thể, có giá trị. Bên cạnh đó, cần xây dựng và triển khai Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp dược liệu và thuốc từ dược liệu đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, gắn với chiến lược khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

http://nhandan.vn/don-baycho-cong-nghiep-duoc-lieu-post980695.html?gidzl=kKZO6pMtgbsxLT4REg-fNBDIrHqaflfLh5g3GdFq-53yNOKKTABs1FGDY4mieg48ebtIG3Ivp4fnCRUdNm

Theo nhandan.vn
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Ứng dụng AI vào phát triển công nghiệp văn hóa

Trong phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, AI đang trở thành công nghệ cốt lõi làm thay đổi phương thức sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm, góp phần bảo tồn di sản, quảng bá bản sắc dân tộc, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường quốc tế. Tuy nhiên, việc ứng dụng AI cũng đang đặt ra nhiều thách thức liên quan vấn đề bản quyền, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ứng dụng AI vào phát triển công nghiệp văn hóa
Tìm “thước đo” cho công nghiệp văn hóa

Công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, nhưng ở Việt Nam hiện nay, những câu hỏi như: Công nghiệp văn hóa đóng góp bao nhiêu % GDP; thu hút bao nhiêu doanh nghiệp, lao động; lĩnh vực nào đang đem lại lợi ích kinh tế cao; giá trị xuất, nhập khẩu thế nào?... đều chưa có câu trả lời chính xác, dẫn đến những khó khăn trong xây dựng, ban hành chính sách. Việc xây dựng “dụng cụ đo lường” cho công nghiệp văn hóa là vấn đề đang đặt ra cấp thiết.

Tìm “thước đo” cho công nghiệp văn hóa
Đòn bẩy cho bóng chày Việt Nam

Giải Vô địch các Câu lạc bộ (CLB) Bóng chày toàn quốc 2026 được kỳ vọng là bước tiến mới của bóng chày Việt Nam. Từ phong trào đến chuyên nghiệp, môn thể thao này đang từng bước thu hút thêm nhiều vận động viên tham gia và nuôi dưỡng những khát vọng lớn.

Đòn bẩy cho bóng chày Việt Nam
Phát triển ngành công nghiệp văn hóa Huế: Kịch bản nào để thuộc nhóm dẫn đầu cả nước?

Những năm gần đây, khái niệm “công nghiệp văn hóa” không còn xa lạ trong các chiến lược phát triển quốc gia và địa phương. Từ một lĩnh vực từng được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo tồn và hưởng thụ, văn hóa ngày nay được xem là nguồn lực phát triển, là một ngành kinh tế đặc biệt có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, việc làm chất lượng cao và sức cạnh tranh mềm cho mỗi quốc gia.

Phát triển ngành công nghiệp văn hóa Huế Kịch bản nào để thuộc nhóm dẫn đầu cả nước
Khát vọng đưa công nghiệp văn hóa Huế cất cánh

Huế là một vùng đất giàu di sản, đậm đặc bản sắc và chiều sâu văn hóa. Trong bối cảnh mới, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển với yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững, không chỉ dừng ở việc bảo tồn, những giá trị ấy phải trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh kinh tế, động lực đổi mới sáng tạo.

Khát vọng đưa công nghiệp văn hóa Huế cất cánh

TIN MỚI

Return to top