Tuy nhiên, nhìn sâu vào thực tiễn triển khai, có thể thấy một thực tế: trở ngại lớn nhất hiện nay trong bảo tồn di sản không còn nằm ở việc có hay không có nguồn vốn đầu tư, mà nằm ở những điểm nghẽn kéo dài nhiều năm chưa được tháo gỡ triệt để.
 |
| Chống đỡ, gia cố những đoạn tường Hoàng thành bị nghiêng, xô lệch bằng khung thép. Ảnh: Liên Minh |
Điểm nghẽn giải phóng mặt bằng
Nhiều năm qua, chương trình di dời dân cư khỏi khu vực I Kinh thành Huế được xem là một trong những dự án nhân văn và có ý nghĩa lịch sử lớn nhất đối với công tác bảo tồn di sản.
Nhờ sự quan tâm của Trung ương và nỗ lực của địa phương, hàng nghìn hộ dân đã được bố trí tái định cư, trả lại mặt bằng cho hệ thống thành lũy, eo bầu, hộ thành hào và các công trình quân sự thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế.
Nhưng theo báo cáo của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, đến nay, vẫn còn 462 hộ dân chưa hoàn thành việc di dời khỏi khu vực I Kinh thành Huế. Con số này tuy chỉ còn là một phần nhỏ so với giai đoạn trước nhưng lại là phần khó khăn nhất. Bởi mỗi hộ dân chưa di dời đồng nghĩa với một đoạn thành chưa thể phục hồi hoàn chỉnh, một tuyến phòng thủ chưa thể khai quật khảo cổ, một dự án chưa thể triển khai đồng bộ.
Thực tế cho thấy, nhiều công trình hiện nay đang phải vừa nghiên cứu, vừa thiết kế, vừa chờ mặt bằng. Điều đó làm tăng chi phí đầu tư, kéo dài thời gian thực hiện và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Nếu xác định phục hồi Kinh thành Huế là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn mới thì việc hoàn thành dứt điểm chương trình giải phóng mặt bằng khu vực I cần được xem là ưu tiên hàng đầu. Đây không còn là câu chuyện của riêng ngành văn hóa mà là nhiệm vụ chính trị của toàn thành phố.
Nghiên cứu khoa học chưa được đầu tư tương xứng
Một trở lực đang tồn tại trong nhiều dự án bảo tồn hiện nay là kinh phí xây lắp thường được quan tâm nhiều hơn kinh phí nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, đối với di sản, phần việc quan trọng nhất lại nằm ở nghiên cứu.
Những tranh luận gần đây quanh việc phục hồi đoạn tường Hoàng thành bị sập đổ do thiên tai, việc xác định màu sắc nguyên gốc, cấu kiện kiến trúc, vật liệu truyền thống hay các chi tiết nội thất tại Quốc Tử Giám, Minh Khiêm Đường cho thấy nghiên cứu khoa học vẫn chưa thực sự đi trước một bước.
Đối với di sản, nghiên cứu khảo cổ học, khảo cứu lịch sử, phân tích vật liệu, số hóa dữ liệu, quét laser 3D, mô hình hóa công trình, phản biện khoa học phải được xem là một hạng mục đầu tư chính thức, không phải phần việc phụ trợ. Bởi mỗi sự đầu tư cho nghiên cứu hôm nay có thể giúp tránh lãng phí lớn cho sửa chữa và điều chỉnh sau này.
Thiếu mặt bằng đổ thải đang trở thành lực cản
Ít được nhắc tới nhưng đây là khó khăn rất thực tế mà nhiều dự án bảo tồn đang gặp phải.
Các công trình phục hồi Kinh thành, hào lũy, hộ thành hào hay các khu vực khảo cổ đều phát sinh khối lượng đất đá, vật liệu thải rất lớn. Trong khi đó, quy hoạch các khu vực tiếp nhận và xử lý đất thải hiện vẫn chưa thực sự đồng bộ. Nhiều dự án phải mất thêm thời gian để hoàn tất thủ tục vận chuyển, tìm vị trí tập kết hoặc điều chỉnh phương án thi công. Đối với những dự án quy mô lớn như hệ thống Kinh thành Huế, đây có thể trở thành một điểm nghẽn đáng kể nếu không được giải quyết từ sớm.
Thành phố cần chủ động quy hoạch các khu vực tiếp nhận vật liệu thải phục vụ riêng cho các dự án bảo tồn, đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp nhanh giữa các sở, ngành liên quan. Nếu không chuẩn bị trước mặt bằng đổ thải, nhiều dự án có thể rơi vào tình trạng "có vốn nhưng không thể thi công".
Cần cơ chế ưu tiên cho các dự án di sản
Một thực tế khác là nhiều quy trình hiện nay vẫn đang áp dụng gần như tương tự đối với dự án bảo tồn di tích và dự án xây dựng thông thường. Đây là điều chưa thực sự phù hợp. Bởi trùng tu di sản là lĩnh vực đặc thù.
Có những công trình phải dừng thi công để khai quật khảo cổ; có những cấu kiện phải nghiên cứu hàng tháng trời trước khi đưa ra quyết định bảo tồn; có những phát hiện mới buộc phải điều chỉnh thiết kế ngay trong quá trình triển khai.
Do đó, nếu áp dụng máy móc các quy trình đầu tư xây dựng thông thường, các dự án bảo tồn rất dễ bị đánh giá là chậm tiến độ.
Huế cần mạnh dạn đề xuất với Trung ương những cơ chế đặc thù hơn cho lĩnh vực bảo tồn di sản, phù hợp với tinh thần phân cấp, phân quyền của Nghị quyết 80-NQ/TW.
Trong đó cần ưu tiên rút ngắn thủ tục thẩm định đối với các dự án cấp bách; tăng quyền chủ động cho địa phương trong việc điều chỉnh kỹ thuật; cho phép bố trí nguồn kinh phí nghiên cứu độc lập; có cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ đội ngũ chuyên gia bảo tồn chất lượng cao.
Huế đang đứng trước một cơ hội đặc biệt
Hiếm có giai đoạn nào mà nguồn lực đầu tư cho bảo tồn di sản Huế lại lớn như hiện nay với hành lang pháp lý từ Luật Di sản văn hóa 2024 và Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa. Để khai thác tốt cơ hội lịch sử, những điểm nghẽn cần được tháo gỡ.
Muốn phục hồi hoàn chỉnh Kinh thành Huế phải hoàn thành dứt điểm giải phóng mặt bằng. Muốn bảo tồn đúng giá trị nguyên gốc phải đầu tư mạnh cho nghiên cứu khoa học. Muốn đẩy nhanh tiến độ phải chuẩn bị đầy đủ mặt bằng kỹ thuật, kể cả các khu vực đổ thải phục vụ thi công. Và trên hết, muốn biến di sản thành động lực phát triển thì cần một cơ chế đặc thù đủ mạnh cho một lĩnh vực đặc thù.
Mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ sẽ mở ra thêm cơ hội để Huế tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành đô thị di sản đặc sắc của châu Á, nơi văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển theo đúng tinh thần mà Nghị quyết 80-NQ/TW đã đặt ra.