ClockChủ Nhật, 15/03/2026 06:02

Níu giữ nghề xưa

HNN - Gần ba thập kỷ gắn đời mình với những mảnh sành, mảnh sứ, nghệ nhân Đào Hữu Khiến vẫn giữ trọn sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và niềm đam mê với nghề.

Hãy chuyển từ “dạy những gì trường có” sang “dạy những gì thị trường cần”Tưởng nhớ, tôn vinh Tổ nghề làng bún Vân CùĐịnh hướng lựa chọn ngành học và cơ hội nghề nghiệp cho học sinh

 Tách, tỉa để hình ảnh linh vật tăng phần sinh động

Hành trình “ăn gió nằm sương”

Khi ánh nắng cuối ngày dần rút khỏi mái ngói lưu ly, nghệ nhân Đào Hữu Khiến vẫn còn cần mẫn đứng trước bức bình phong ở Thái Miếu, chăm chút đặt từng mảnh gốm mới vào hiện vật đã bị thời gian bào mòn. Ánh chiều tím nghiêng xuống, hắt lên gương mặt sạm nắng và đôi tay rắn rỏi của người đàn ông. Mùi vôi vữa quyện với mùi gạch nung đã qua hàng trăm năm như vẫn còn giữ lại chút hơi ấm.

Lớn lên ở thôn An Lưu, phường Mỹ Thượng (trước đây là xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang), năm 17 tuổi, Đào Hữu Khiến theo học nghề khảm sành sứ và dần gắn bó với những họa tiết rồng, hạc, ô hộc, cổ diềm trên kiến trúc cung đình Triều Nguyễn. Thầy anh là ông Trương Văn Ấn, một nghệ nhân khảm sành sứ nổi tiếng ở Huế, người luôn đau đáu chuyện gìn giữ nét tinh xảo của nghề xưa.

Tháng năm theo thầy cũng là quãng thời gian anh bắt đầu hành trình “ăn gió nằm sương” trên khắp các di tích Cố đô. Từ Duyệt Thị Đường, Hiển Lâm Các đến Ngọ Môn, các lăng tẩm Triều Nguyễn…, nơi đâu kiến trúc xưa bị thời gian xóa mòn, ở đó có dấu chân thầy trò anh cần mẫn dựng lại từng chi tiết.

“Thầy tôi nghiêm lắm”, anh Khiến nhớ lại. “Những ngày đầu, tôi không được chạm tay vào bay, vào đục. Công việc chỉ là nhìn, ghi nhớ lại từng thao tác, rồi trộn vữa, bưng bê, nhặt sành, dọn nền”. Có lần nôn nóng ghép thử một mảng nhỏ, thầy nhìn qua rồi lắc đầu gỡ bỏ, bắt làm lại từ đầu. “Chưa hiểu thì đừng làm, khảm sai là hỏng luôn công trình của người xưa”, câu lời dặn ấy, theo anh suốt quãng đời làm nghề sau này.

Giữ hồn di sản

Gần ba mươi năm trong nghề, nghệ nhân Đào Hữu Khiến nói rằng, thứ khó nhất của khảm sành sứ không phải là cắt gọt, hay leo trèo trên cao, mà là học cách kiên nhẫn trước từng mảnh vỡ. Bởi mỗi mảnh sành đặt xuống không chỉ là thao tác kỹ thuật, mà là một lần đối diện với di sản.

“Từ thầy tôi, ngoài kỹ thuật nghề nghiệp, tôi còn học được cái tâm của nghề”, anh chia sẻ. Đó là cách đọc “thế - thần” của công trình, cách nhận ra hơi thở của tứ linh, tứ thời trong mỗi họa tiết. Và cũng từ đó, anh hiểu rằng người thợ khảm sành sứ không đơn giản là người chỉ làm nghề, mà còn là người góp sức giữ gìn và tiếp nối những đường nét mà cha ông gửi lại trong kiến trúc Kinh đô. “Để ghép được một cánh hoa hay tạo nên một vảy rồng, người thợ phải hiểu triết lý phương Đông, phải am tường văn hóa Huế, phải hiểu rõ lịch sử, để không làm sai tinh thần kiến trúc xưa”, anh bộc bạch.

Anh Khiến cho biết, nghề khảm sành sứ đòi hỏi sự tỉ mẩn cao. Một mảnh đặt sai có thể phá hỏng bố cục. Người thợ buộc phải “nhìn thấy” hình hài linh vật trong đầu, cân nhắc từng độ cong, từng nhịp chuyển động, trước khi đặt tay xuống.

Để tạo nên một linh vật hoàn chỉnh trên mái ngói cổ kính, người thợ phải dựng hình trên mặt cát, phóng họa lại dáng thế ban đầu, canh chỉnh theo chiều dài bờ nóc, bờ quyết và tầm nhìn tổng thể của công trình. Công đoạn khảm khó nhất và cũng là "thước đo" đỉnh cao tay nghề. Từng mảnh sành, mảnh sứ phải được cắt gọt cho thật khít, đủ mềm mại để “thổi hồn” vào linh vật.

Anh cho rằng, nghề khảm sành sứ không đơn thuần là nghề xây dựng, cũng không hoàn toàn là mỹ thuật. Người làm nghề phải vừa am hiểu kết cấu kiến trúc, vừa nắm được ngôn ngữ tạo hình của linh vật, của hoa lá, cây trái, lại vừa đủ cảm giác nghề để ứng biến với những mảnh sành vỡ, không mảnh nào giống mảnh nào. Chính sự “không trọn vẹn” ấy buộc người thợ phải sáng tạo trong khuôn khổ, làm mới nhưng không được phép đi chệch tinh thần xưa.

Người nghệ nhân này nói rằng, nhiều người từng theo học nghề, nhưng rồi họ bỏ dở giữa chừng. Có người không chịu nổi cảnh làm việc trên cao, có người chán nản trước yêu cầu tỉ mỉ, cầu kỳ. Nghề này đòi hỏi sự kiên nhẫn đến mức khắc nghiệt, trong khi thu nhập lại bấp bênh, phụ thuộc vào từng công trình trùng tu, phục chế.

Nhiều năm qua, nghệ nhân Đào Hữu Khiến tham gia trùng tu, phục chế nhiều công trình kiến trúc cổ ở Huế và một số tỉnh thành miền Trung. Nhưng với anh, điều trăn trở nhất vẫn là câu chuyện người nối nghiệp. Giữ được nghề đã khó, giữ được người theo nghề còn khó hơn, trong khi nhiều nghệ nhân lớn tuổi đã lui về nghỉ ngơi mà chưa kịp truyền hết những tinh hoa cho thế hệ hậu sinh.

“Nghề này không thể vội”, anh nói. Cũng bởi không thể vội, nên khi cuộc sống càng gấp gáp, thì những người đủ kiên nhẫn ở lại với nghề khảm sành sứ ngày một thưa dần.

Trong ánh chiều tà đang dần tắt, nghệ nhân Đào Hữu Khiến cố gắng hoàn thiện những vảy rồng cuối cùng trên bức phù điêu ở Thái Miếu. Đôi tay cẩn trọng như đang níu giữ từng mảnh ký ức Kinh kỳ. Anh hiểu, chỉ cần còn người kiên nhẫn cúi xuống nhặt từng mảnh sành vỡ, thì ngọn lửa nghề khảm sành sứ vẫn chưa tắt. Và ký ức Kinh đô sẽ mãi hiện diện trên từng mái ngói, bờ nóc nhuốm màu thời gian.

Ngọc Linh
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Giữ nghề lọng Huế

Trong khoảng 70 làng nghề thủ công của Huế, làm lọng là một nghề đặc biệt. Ngoài sự công phu trong các công đoạn chế tác, nghề này còn đặc biệt ở chỗ sản phẩm hoàn thiện mang giá trị rất biểu trưng trong đời sống văn hóa xứ sở. Vượt xa giá trị che nắng che mưa, lọng còn là chỉ dấu của trật tự, của nghi lễ và niềm tôn kính.

Giữ nghề lọng Huế
Định hướng nghề nghiệp và tuyên truyền chính sách học nghề cho bộ đội xuất ngũ

Nhằm hỗ trợ định hướng nghề nghiệp, đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ngày 21/11, Sở Giáo dục và đào tạo phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự (CHQS) TP. Huế tổ chức hội nghị định hướng nghề nghiệp và tuyên truyền chính sách học nghề cho bộ đội xuất ngũ năm 2025.

Định hướng nghề nghiệp và tuyên truyền chính sách học nghề cho bộ đội xuất ngũ
Tự làm thiết bị đào tạo nghề

Trong xu thế chuyển đổi số, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã chủ động nghiên cứu, chế tạo thiết bị dạy học. Không chỉ giải quyết bài toán thiếu hụt máy móc hiện đại, những sản phẩm này còn đưa công nghệ đến gần hơn với người học, gắn kết đào tạo với thực tiễn sản xuất.

Tự làm thiết bị đào tạo nghề

TIN MỚI

Return to top