ClockThứ Ba, 03/05/2016 09:26

Việt Nam có trên 12.000 tiến sĩ tham gia nghiên cứu khoa học

Theo thông tin từ Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) thì hiện tại có khoảng 12.000 tiến sĩ tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Số lượng cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ chủ yếu tập trung ở khu vực nhà nước.

Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cũng cho biết, con số trên 24.000 tiến sĩ được nêu trong Sách Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2013 là số liệu từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 do Tổng cục Thống kê tiến hành. Tuy nhiên, đây là số lượng tiến sĩ trên cả nước, đang hoạt động trong mọi ngành nghề, lĩnh vực từ kinh tế, giáo dục cho đến khoa học và công nghệ và thậm chí cả những tiến sĩ không còn làm việc nữa.

Cũng trong cuốn sách này, năm 2012, số lượng tiến sĩ tham gia nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam là 11.501 người.

Theo số liệu từ cuộc điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2014 do Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) tiến hành cùng với Điều tra Doanh nghiệp 2014 của Tổng cục Thống kê, được công bố trong sách Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2014, cho thấy, năm 2013 Việt Nam có 12.261 tiến sĩ tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (chiếm 9% trong tổng số 128.998 cán bộ nghiên cứu).

Cũng theo kết quả tổng hợp của các cuộc điều tra trên, số lượng cán bộ nghiên cứu có trình độ tiến sĩ chủ yếu tập trung ở khu vực nhà nước (11.411 người trên tổng số 12.261 người, chiếm 93%), tiếp đến là khu vực ngoài nhà nước (830 người, chiếm 6,8%) và còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trong tổng số 12.261 tiến sĩ, có 3.637 tiến sĩ là nữ, chiếm gần 30%. Chủ yếu số nữ tiến sĩ làm việc trong khu vực nhà nước (3.198 người, chiếm gần 88%).


Thống kê số lượng tiến sĩ theo khu vực hoạt động cho thấy trường đại học là khu vực có số lượng tiến sĩ nhiều nhất (7.959 người, chiếm gần 65%), tiếp sau là khu vực các các viện, trung tâm NC&PT (3.367 người, chiếm gần 28%). Khu vực doanh nghiệp có tỷ lệ cán bộ nghiên cứu là tiến sĩ thấp nhất.

Theo Dân trí

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Phát triển sản phẩm du lịch liên vùng gắn với bản sắc riêng

Liên kết vùng vốn được xem là "chìa khóa" để nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, để ngành du lịch phát triển bền vững, công tác liên kết vùng cần được triển khai theo hướng thực chất hơn, gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp.

Phát triển sản phẩm du lịch liên vùng gắn với bản sắc riêng
Phát triển nhân lực AI đáp ứng các ngành công nghệ chiến lược

Ngày 11/8, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1528/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 (Chương trình), nhằm hình thành đội ngũ nhân lực có quy mô, cơ cấu và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

Phát triển nhân lực AI đáp ứng các ngành công nghệ chiến lược
Đổi mới chính sách phân loại và phát triển đô thị: Những yêu cầu đặt ra cho Huế

Sau nhiều năm phân loại đô thị chủ yếu dựa trên quy mô dân số, mật độ và hạ tầng, Việt Nam đang bước vào giai đoạn đổi mới chính sách phát triển đô thị. Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị (NQ 111) đã chuyển trọng tâm từ việc “xếp hạng đô thị” sang nâng cao chất lượng phát triển và hiệu quả quản trị. Sự thay đổi này cũng giúp TP. Huế có cơ sở để tiếp tục hoàn thiện phương thức quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển mới.

Đổi mới chính sách phân loại và phát triển đô thị Những yêu cầu đặt ra cho Huế

TIN MỚI

Return to top