ClockChủ Nhật, 11/01/2026 08:48

Dự kiến Khung trình độ quốc gia Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Khung trình độ quốc gia Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân được tiếp cận cơ hội học tập phù hợp, không phân biệt vùng miền, giới tính, điều kiện kinh tế – xã hội.

Đêm nghệ thuật đặc biệt về tình hữu nghị Việt Nam - LàoXử lý hơn 123.000 vụ buôn lậu, gian lận thương mạiNhiều nước chỉ trích mạnh hành động quân sự của Mỹ tại Venezuela

Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân được tiếp cận cơ hội học tập phù hợp, không phân biệt vùng miền, điều kiện kinh tế – xã hội 

Dự thảo Khung trình độ quốc gia Việt Nam được áp dụng đối với các trình độ đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (năm 2025) Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) năm 2025 và Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) năm 2025, bao gồm các trình độ từ sơ cấp đến tiến sĩ.

Theo dự thảo, Khung trình độ quốc gia Việt Nam là hệ thống phân loại, mô tả và chuẩn hóa các trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân, được xây dựng theo các bậc trình độ, dựa trên chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm của người học.

Cấu trúc Khung trình độ quốc gia

Khung trình độ quốc gia là khung phân loại trình độ dựa trên kết quả học tập đạt được, làm căn cứ cho: Bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục; công nhận văn bằng, chứng chỉ; liên thông và chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo; công nhận học tập trước theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; tham chiếu, so sánh và hội nhập quốc tế.

Khung trình độ quốc gia không thay thế chương trình đào tạo, chuẩn chương trình, quy chế đào tạo, chuẩn kỹ năng nghề hoặc các quy định chuyên môn khác thuộc thẩm quyền của cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý nhà nước.

Dự thảo nêu rõ, Khung trình độ quốc gia gồm 8 bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân.

Mỗi bậc trình độ được gồm khối lượng học tập tối thiểu và mô tả theo ba thành phần chính: Kiến thức; kỹ năng; mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân.

Mô tả các bậc trình độ mang tính định hướng, khái quát, áp dụng chung cho mọi lĩnh vực đào tạo; không gắn với ngành, nghề, chương trình đào tạo hoặc điều kiện đầu vào cụ thể.

Các bậc trình độ

Bậc 1 đến Bậc 3: Các trình độ kỹ năng và sơ cấp theo mức độ tăng dần, đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc từ đơn giản đến có cấu trúc, chủ yếu dưới sự hướng dẫn và giám sát.

Bậc 4 (Trung cấp): Trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc có kỹ thuật, quy trình tương đối ổn định; có khả năng phối hợp, chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.

Bậc 5 (Cao đẳng): Trình độ đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc phức tạp hơn so với Bậc 4; có khả năng phân tích, cải tiến quy trình, hướng dẫn người khác và giải quyết vấn đề trong bối cảnh công việc quen thuộc.

Bậc 6 (Đại học): Trình độ đáp ứng yêu cầu vận dụng kiến thức chuyên sâu; tư duy phản biện; giải quyết vấn đề trong bối cảnh công việc đa dạng; có khả năng tự chủ và chịu trách nhiệm nghề nghiệp.

Bậc 7 (Thạc sĩ): Trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển và ứng dụng tri thức nâng cao; có thể theo định hướng hàn lâm (học thuật) hoặc định hướng nghề nghiệp (chuyên môn), ứng dụng; có khả năng lãnh đạo chuyên môn và chịu trách nhiệm nghề nghiệp ở mức cao.

Bậc 8 (Tiến sĩ): Trình độ đáp ứng yêu cầu sáng tạo tri thức mới; nghiên cứu độc lập; chịu trách nhiệm học thuật ở mức cao nhất; có thể theo định hướng hàn lâm (học thuật) hoặc định hướng nghề nghiệp (chuyên môn), ứng dụng.

Dự thảo nêu rõ khối lượng học tập tối thiểu rõ ràng theo từng bậc: Ví dụ: Bậc 4 yêu cầu 35–50 tín chỉ, bậc 6 yêu cầu 120 tín chỉ, bậc 7 yêu cầu 60 tín chỉ, bậc 8 yêu cầu 90–120 tín chỉ tùy đầu vào. Đưa ra chuẩn công nhận tương đương trình độ (ví dụ: đại học ≥150 tín chỉ được công nhận tương đương thạc sĩ ứng dụng).

Phân biệt rõ trình độ đào tạo và khả năng ứng dụng: Mô tả chi tiết từng trình độ từ trung cấp đến tiến sĩ: mức độ kiến thức, năng lực thực hành, kỹ năng quản lý, tư duy phản biện, khả năng nghiên cứu và đổi mới.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.

Theo baochinhphu.vn
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho du lịch Việt Nam

Nghị quyết 26-NQ/TW Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam mở ra hướng phát triển mới cho du lịch Việt Nam, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và quản trị thông minh được xác định là những động lực quan trọng để nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị của toàn ngành.

Khoa học, công nghệ tạo động lực mới cho du lịch Việt Nam
Quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga tiếp tục phát triển mạnh mẽ, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác của khu vực và thế giới

Nhân dịp thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga theo lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã trả lời phỏng vấn của Hãng thông tấn TASS của Nga.

Quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga tiếp tục phát triển mạnh mẽ, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác của khu vực và thế giới
Từ Huế, mở rộng không gian hợp tác Việt Nam - Nhật Bản

Việc Huế được lựa chọn đăng cai Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản năm 2026 là một sự kiện đối ngoại đặc biệt quan trọng của thành phố. Nhìn xa hơn, đây còn là dấu hiệu cho thấy hợp tác địa phương đang trở thành một tầng nấc ngày càng quan trọng trong quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản, thực sự đưa những cam kết ở tầm quốc gia đi vào đời sống bằng các chương trình, dự án và những mối liên kết cụ thể giữa địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng hai nước.

Từ Huế, mở rộng không gian hợp tác Việt Nam - Nhật Bản
Trao đổi kinh nghiệm phát huy giá trị di sản từ Việt Nam và Nhật Bản

Tại Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản 2026, Phiên chuyên đề “Từ bảo tồn di sản đến công nghiệp văn hóa: Khai phá tiềm năng và kết nối cơ hội hợp tác địa phương” cho thấy, di sản đang được nhìn nhận như một nguồn lực cho phát triển khi được kết nối với cộng đồng, công nghệ, du lịch và công nghiệp văn hóa.

Trao đổi kinh nghiệm phát huy giá trị di sản từ Việt Nam và Nhật Bản

TIN MỚI

Return to top