 |
| Ông Lê Hữu Tòng ôn lại những tháng năm gắn bó với mặt trận phía nam Huế |
1. Cựu chiến sĩ của Đại đội 3, Tiểu đoàn 1 Đặc công thuộc Thành đội Huế Hà Ngọc Chuyên kể: Đêm 20/5/1968, Tổ hỏa lực gồm ông, Lê Hữu Tòng và Ngô Lương Viễn nhận nhiệm vụ thâm nhập Động Tòa - căn cứ xe tăng của quân đội Mỹ.
Đang chờ hiệu lệnh tấn công thì bầu trời đột ngột rực sáng. Qua ánh hỏa châu, hàng chục chiến sĩ quân giải phóng đang xung phong thì ngã xuống hàng rào. Kế hoạch đổ vỡ. Để cứu nguy cho đồng đội, xạ thủ chính Lê Hữu Tòng đã hướng nòng súng về các ổ đề kháng của đối phương nhả từng trái đạn B41. Vừa chiến đấu vừa gom đạn, Tổ B41 đã ngoan cường cầm cự để các đơn vị rút lui. Do Ngô Lương Viễn bị thương đã được đưa ra trước đó nên tổ chỉ còn 2 người. Lúc đó trời đã gần sáng, đang di chuyển, Hà Ngọc Chuyên phát hiện có xe tiếp viện đang đến. Chiếc GMC bị trúng đạn B41 bốc cháy. Một số binh sĩ Mỹ thoát chết la inh ỏi. Định rút quân thì bất ngờ có một chiếc xe đang lao tới. Biết Trung đội phó không nghe được vì đã bắn đến 18 viên đạn B41 nên Hà Thúc Chuyên ghé sát tai Lê Hữu Tòng vừa chỉ tay vừa hét lớn: Xe cứu thương có bắn không?
Lê Hữu Tòng lắc đầu và nói: Thôi, tha cho nó!
Sau trận Động Tòa, Đại đội 3 khi đi 100 người nhưng khi về Mỏ Tàu, điểm lại chỉ còn hơn 10 người, không kể số bị thương. Dù rất căm tức quân thù nhưng Lê Hữu Tòng đã không nỡ bóp cò với đối tượng không đáng nhận cái chết.
2. Trung úy Nguyễn Đình Kiên, nguyên Trung đội trưởng của Đại đội 1 Huyện đội Hương Thủy kể: Sau Hiệp định Paris 1973, Trung đoàn 54 của quân đội Sài Gòn liên tục tổ chức lấn chiếm. Quân giải phóng không đánh trả mà chỉ tuyên truyền nói rõ cho họ biết tinh thần của Hiệp định, xem việc Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam là thắng lợi của cả dân tộc.
Một hôm đang trực ở chốt, ông phát hiện từ đồi đối diện có hai binh lính Sài Gòn đang đi xuống suối. Do họ đã xâm nhập khu vực quân giải phóng đang kiểm soát nên các chiến sĩ hỏi tôi có nổ súng không? Tôi trả lời: Không bắn!
Dặn dò chiến sĩ xong, tôi báo cáo sự việc cho Huyện đội phó Lê Hữu Tòng. Sau khi trao đổi nhanh, tôi quay lại điểm chốt và nghe qua loa tiếng của anh Lê Hữu Tòng: "Hỡi anh em binh sĩ Sài Gòn, nếu các bạn muốn xuống suối lấy nước thì báo cho quân giải phóng biết, nếu không các bạn sẽ vấp phải mìn, chết bỏ vợ, bỏ con...". Sau đó, được tạo điều kiện, số binh sĩ Sài Gòn đồn trú đã dùng loa xin phép và được quân ta chỉ dẫn nên an toàn.
Tiếng súng tạm ngưng, dưới sự chỉ đạo của Chính trị viên kiêm Huyện đội trưởng Võ Nguyên Quảng, một căn nhà chung do binh sĩ hai bên cùng làm được dựng lên và theo đề xuất của Lê Hữu Tòng bữa cơm "hòa hợp" đầu tiên được thực hiện. Lần đầu tiên căn nhà vang lên giọng nói Bắc - Trung - Nam.
3. Tổ trưởng Trinh sát của Đại đội 3 Đặc công Huyện đội Hương Thủy Hoàng Vân kể: Tháng 5/1974, ông cùng 3 chiến sĩ là Đoàn, Đống và Nguyên được giao nhiệm vụ trinh sát chốt xóm Cầu nay thuộc địa phận phường Thanh Thủy, thành phố Huế.
Xóm Cầu lúc ấy là nơi đồn trú của 1 trung đội “Nghĩa quân” Thủy Phương. Do rành đường đi nước bước của quân giải phóng nên trung đội này không chỉ gài mìn mà còn tổ chức phục kích làm cho tuyến hành lang bí mật của cách mạng từ hậu cứ về khu ba Hương Thủy bị ngưng trệ. Để khơi thông, Bí thư Huyện ủy Lê Sáu đã giao trách nhiệm cho Huyện đội Hương Thủy phải "nhổ” cho bằng được cái gai này.
Đích thân Q. Huyện đội trưởng Lê Hữu Tòng và Đại đội trưởng Đàm Văn Cữ giao nhiệm vụ cho tổ chúng tôi: “Trong vòng một tuần, các đồng chí khảo sát vẽ cho được bản đồ chi tiết chốt xóm Cầu, nắm chắc quy luật hoạt động, quân số và tìm hiểu cho được chúng gài mìn ở những đâu?”.
Trên đường xâm nhập mục tiêu, chúng tôi phát hiện quy luật, cứ 3 ngày một lần có đoàn người khá đông từ căn cứ Mỏ Tàu về căn cứ Tân Ba cùi cõng. Chúng tôi báo cáo nhưng có lẽ do sơ sài nên chỉ huy yêu cầu phải nắm thật kỹ.
Lần này chúng tôi phân công nhau theo dõi thì trong đoàn gần cả trăm người lên về chỉ có 9 binh sĩ mang súng. Chúng phân thành 2 tốp, đi đầu 6 và đi sau 3. Hơn 90 người còn lại phần lớn là trung niên mặc áo lính nhưng không có vũ khí mà chỉ cùi cõng hàng hóa. Do muốn biết phiên hiệu đơn vị nên tôi bò sát để quan sát và thấy trên ngực áo của những người cùi cõng ấy có in 4 chữ LCĐB!
Sau khi báo cáo, tôi xin ý kiến chúng chỉ có 9 tay súng lại đi khơi khơi, đề nghị cho chúng tôi bắn.
"Không được bắn!" - Người hạ lệnh là Q. Huyện đội trưởng Lê Hữu Tòng.
Để giải thích cho chúng tôi hiểu vì sao ông không cho bắn, Q. Huyện đội trưởng Tòng nói ngắn gọn: Hơn 90 người cùi cõng đó là do bị cưỡng bức. Các anh có biết các chữ viết tắt trên ngực áo của họ là gì không? LCĐB tức là lao công đào binh đó. Theo tôi biết, số anh em này phần lớn bị bắt đi lính, họ bỏ trốn (tức đào binh) và bị bắt, bị cưỡng bức ra phục dịch ở chiến trường. Đành rằng mình bắn số binh sĩ canh giữ nhưng có ai đảm bảo rằng họ được bảo toàn mạng sống khi tên bay đạn lạc, dù không ai cố ý!
Từ một Trạm trưởng đường dây do mới chuyển sang bộ đội nên tôi nóng lòng lập công. Được chỉ huy giải thích cặn kẽ, tôi và mấy anh em trong tổ dồn sức cho mục tiêu chính.
Lê Hữu Tòng đúng là vị huy trận mạc, nhìn vào sa bàn tác chiến, ông hỏi chúng tôi: “Ở phía bắc địch bỏ trống hay phòng bị?”
Theo yêu cầu, chúng tôi tiếp tục trinh sát, hóa ra ở đó có một vọng gác và biết thêm chốt Xóm Cầu địch vừa tăng thêm 60 quân và dựng thêm 4 vọng gác. Nhờ nắm chắc tình hình và trận địa của đối phương, nửa đêm về sáng ngày 18/5/974, dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông Lê Hữu Tòng, Đại đội 3 Đặc công Hương Thủy đã hốt gọn chốt xóm Cầu.
Tuyến hành lang được khai thông, tạo điều kiện để cán bộ, chiến sĩ rút ngắn khoảng cách xâm nhập về vùng sâu Phú Vang, Hương Thủy.