Mặt trời dần khuất sau những hàng tre cuối xóm, nhuộm vàng trên cánh đồng lúa, trước hiên nhà, ông Phan Văn Thứ, một người cao tuổi ở thôn Xuân Tùy, xã Đan Điền chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về những âm thanh đã gắn bó với tuổi thơ ông và các bậc cao niên trong thôn.
“Ngày trước, khi hệ thống truyền thanh chưa phổ biến, việc truyền đạt thông tin đến từng hộ dân trong thôn hoàn toàn dựa vào những phương thức giản đơn nhưng hiệu quả. Mỗi thôn thường có người được giao nhiệm vụ thông báo công việc chung. Mỗi khi thôn có việc, người ấy đánh kẻng để báo tin”, ông Thứ nhớ lại.
Ông Phạm Văn Khánh, trú tại thôn Xuân Tuỳ tiếp chuyện: “Chỉ cần nghe âm thanh ấy, người dân trong thôn đã biết sắp có thông báo quan trọng. Đó có thể là lời mời họp dân tại đình làng, thông báo lịch làm thủy lợi, huy động nhân công đắp đê, nạo vét kênh mương hoặc vận động đóng góp xây dựng công trình công cộng. Cũng có khi là những tin tức khẩn cấp cần báo đến từng nhà trong thời gian ngắn nhất”.
Trong ký ức của nhiều người cao tuổi, mỗi lần tiếng kẻng vang lên là cả xóm trở nên nhộn nhịp. Người làm vườn tạm ngưng tay cuốc, người chuẩn bị bữa cơm chiều cũng ghé tai nghe ngóng. Chỉ ít phút sau, thông tin đã lan truyền khắp thôn. Tiếng kẻng khi ấy vang lên lúc khoan thai, lúc dồn dập không đơn thuần là phương tiện truyền tin, mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng làng xã.
Ông Nguyễn Đình Huệ, trú tại thôn Giang Đông, xã Quảng Điền nhớ lại, thời trước, mỗi khi phát hiện trộm cắp vào ban đêm, người dân thường đánh kẻng liên hồi để báo động. Chỉ cần nghe tiếng “kẻng nhảy” bất thường mà người dân trong làng gọi là “kẻng báo động” là mọi người biết có chuyện. Người dân trong thôn, xóm, nhất là cánh thanh niên lập tức cầm đèn pin, cầm gậy gộc chạy ra hỗ trợ. Khi đó, tiếng kẻng như một lời hiệu triệu rất đặc biệt”.
Truyền thống bao đời nay, kẻng vốn là phương tiện truyền tin khẩn cấp. Mỗi mục đích khác nhau lại có một nhịp gõ khác nhau. Tiếng kẻng báo thức, báo giờ nghỉ hay tan ca thường vang lên khoan thai, đều đặn. Trong khi đó, tiếng kẻng báo cháy, báo động hoặc báo vỡ đê lại dồn dập, gấp gáp như thúc giục mọi người hành động ngay lập tức.
“Cứ nghe tiếng kẻng vang lên 3 hồi, 3 dùi là biết họp thôn; 1 lần 3 tiếng kẻng là biết báo người dân trong thôn, xóm bắt đầu công đoạn ủ lúa để lúa nẩy mầm cùng một lúc đều nhau. Để đến lúc bắt đầu khung lịch thời vụ gieo cấy lúa, bà con ai cũng có giống để xuống đồng gieo cầy cùng một lúc”, ông Phạm Văn Hà, Trưởng thôn Xuân Tùy, xã Đan Điền chia sẻ.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, loa truyền thanh được phủ rộng khắp các địa phương. Sau đó là điện thoại di động, internet và mạng xã hội. Vai trò của những chiếc kẻng dần thu hẹp, tưởng chừng chỉ còn là ký ức của một thời đã qua. Thế nhưng ở những vùng thấp trũng ven phá Tam Giang, nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lũ, tiếng kẻng vẫn chưa hoàn toàn biến mất.
Mỗi mùa mưa bão về, những chiếc kẻng cũ kỹ lại được treo ở vị trí quen thuộc trước nhà văn hóa thôn hoặc các điểm tập trung dân cư. Trong những thời khắc mất điện, sóng điện thoại chập chờn hoặc hệ thống truyền thanh gặp sự cố, tiếng kẻng lại phát huy tác dụng.
Những người từng trải qua các trận lũ lớn trên lưu vực sông Bồ, trên phá Tam Giang đều hiểu giá trị của thứ âm thanh giản dị ấy. Khi nước bắt đầu dâng cao, khi đê điều có nguy cơ bị uy hiếp hoặc cần sơ tán khẩn cấp, người được giao nhiệm vụ sẽ đánh những hồi kẻng liên tục. Âm thanh vang xa từ đầu làng đến cuối xóm.
Không cần điện, không cần sóng điện thoại hay bất kỳ thiết bị hiện đại nào, tiếng kẻng vẫn hoàn thành sứ mệnh cảnh báo của mình. Giữa mưa gió và mất liên lạc, âm thanh giản dị ấy nhiều khi trở thành tín hiệu cứu hộ nhanh nhất của cả cộng đồng.
Chỉ ít phút sau khi tiếng kẻng vang lên, người dân đã chủ động kê cao đồ đạc, đưa người già và trẻ nhỏ đến nơi an toàn hoặc tham gia hỗ trợ cộng đồng. Có lẽ vì thế mà đối với nhiều người dân vùng ven phá, tiếng kẻng không đơn thuần là âm thanh báo hiệu. Trong những thời khắc hiểm nguy, nó giống như một “phao cứu sinh” của cả cộng đồng.
Khó có thể thống kê chính xác ở Đan Điền, Quảng Điền còn bao nhiêu chiếc kẻng. Nhưng nếu ghé qua các nhà văn hóa thôn, nhiều người vẫn dễ dàng bắt gặp những chiếc kẻng được treo trên hai trụ bê tông hoặc đặt trong góc sân.
Ông Phạm Văn Hà, Trưởng thôn Xuân Tùy, xã Đan Điền cho biết thêm: “Ngày trước là tiếng kẻng họp làng, họp thôn, bây giờ đôi khi tiếng kẻng để thông báo cho bà con đến họp hoặc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tiếng kẻng đảm bảo an ninh trật tự trong thôn, xóm vẫn vang lên trong những lúc cần thiết. Có những lúc cháy nhà, cháy cội rơm hay cột điện tiếng kẻng báo động lại vang lên khắp thôn”.
Những chiếc kẻng tưởng chừng bình dị ấy đang âm thầm lưu giữ một phần lịch sử của làng quê. Chúng chứng kiến bao mùa lúa chín, bao mùa nước lụt về, những ngày làng mở hội và cả những đêm thức trắng chống mưa lũ. Mỗi vết gỉ sét trên thân kẻng như lưu giữ dấu ấn của thời gian và những đổi thay của vùng quê ven phá.
Có thể một ngày nào đó, tiếng kẻng sẽ không còn vang lên thường xuyên giữa những làng quê ven phá. Nhưng âm thanh “keng keng” ấy vẫn sống trong ký ức nhiều thế hệ như một phần hồn cốt của làng quê, biểu tượng của sự đoàn kết và tinh thần cộng đồng đã giúp người dân cùng nhau vượt qua biết bao mùa mưa lũ trên vùng đất bên phá Tam Giang.