ClockThứ Bảy, 14/09/2013 14:57

Tầng sâu văn hóa một ngôi làng

HNN - Dương Phước Thu là tác giả có những công trình nghiên cứu lịch sử và văn hóa mang giá trị thực tiễn. Cuốn gần đây nhất nhận được dư luận đánh giá cao: Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế. Xưa nay các bài viết về Cửu Đỉnh rất nhiều, nhưng đây vẫn là một công trình công phu, có nhiều phát hiện và thậm chí những uẩn khúc lần đầu tiên được khơi sáng.
 
Trên tư duy nghiên cứu tránh “đụng hàng” đó, Văn bản Hán Nôm làng Hiền Lương là cuốn sách đầy tâm huyết đối với truyền thống văn hóa tổ tiên của tác giả Dương Phước Thu và con gái Dương Thị Hải Vân. Sách do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tháng 8-2013; dày gần 300 trang, số văn bản Hán Nôm gốc và hình ảnh về văn bia, lễ hội đều được in màu trang nhã. Tính khu biệt của công trình là sưu tầm, chú dịch các Sắc phong, Chế phong, Văn chuông, Văn bia, Văn tế của làng Hiền Lương, hiển nhiên sẽ không nghiêng về nhận định, phân tích. Mà nó đòi hỏi công sức điền dã và sự tỉ mẩn nhọc công soi từng con chữ Hán Nôm, đòi hỏi niềm đam mê và lòng phúc đáp với cội nguồn dòng tộc.
 
 
Làng Hiền Lương có tới gần 2 trăm Sắc phong, Chế phong từ các đời vua nhà Nguyễn, nhiều nhất dưới triều vua Duy Tân với 23 bản, ít nhất là triều vua Kiến Phúc với 2 bản, cho thấy nơi đây có một nền tảng văn hóa sâu sắc và xuyên suốt.
 
Văn bản đầu tiên là “Điệp văn làm chay tại chùa Giác Lương” năm Bính Dần, niên hiệu Gia Long ngũ niên (1806). Chùa làng vốn là trung tâm tín ngưỡng thanh cao nhất của người dân, nên đưa bài điệp văn này lên đầu sách là một chủ ý nhân văn và khoa học của tác giả. Trong nhiều bài điệp văn, câu đối, bia ký nội dung nhiều khi gắn với tích xưa, nếu khảo cứu sơ qua sẽ không hiểu hết nghĩa hoặc hiểu sai nghĩa hoàn toàn. Trong cuốn sách này dẫu không nhiều, song Dương Phước Thu đã làm khá kỹ. Ví như trong điệp văn ở chùa Giác Lương, chỉ một câu ở gần cuối: “Cửu huyền Thất tổ, đồng lên Hoa tạng huyền môn. Tám nạn ba đường cùng vào Tỳ lô tánh hải”, phải chú thích đến 3 chỗ liên quan đến tích nhà Phật và các cụm từ trọng yếu trong kinh điển Phật giáo Đại thừa.
 
Ở trang 51, mấy hàng chú thích nội dung trong “Sắc phong ban cho Bổn Cảnh Thành Hoàng Tôn Thần”, người đọc “vô tình” biết nguồn gốc cái tên Hiền Lương: “Năm 1835, Minh Mạng thứ 16, lấy một phần đất huyện Quảng Điền và huyện Hương Trà để lập huyện Phong Điền, làng Hoa Lang thuộc huyện Phong Điền. Sau năm 1841, vì tránh húy bà Thái hậu Hồ Thị Hoa, tên làng Hoa Lang đổi thành Hiền Lương”. Hoặc ở trang 266 có một chú thích mà thông điệp khá quan trọng: “Cụ Vịnh là người đỗ đại khoa (1842), khai khoa cho làng Hiền Lương và cũng là người khai khoa cho dòng tộc họ Dương ở Thừa Thiên, nhưng sau khi gia tộc quyết định di dời mộ cụ từ Cồn Cấm làng Văn Xá về nghĩa địa thôn La Vần, kể từ đó cho đến năm 1960, nghĩa là hơn 100 năm, người họ Dương ở Hiền Lương dù rất chịu khó “sôi kinh nấu sử” nhưng vẫn không có ai đổ cử nhân”. Thật đáng cho con cháu trong làng suy ngẫm!
 
Sắc phong có đặc điểm thường “na ná” nhau; đó là “Sắc cho (…); “bấy lâu đã được nhân dân phụng thờ”, “nay tuân theo lệ cũ phụng thờ thần như trước”. Có chăng nhân ngày vui gì đó của vua hay sự kiện trọng đại bèn phong tặng thêm chức tước. Thế nên, nếu có thêm phần tiểu sử các vị, các di tích được ban sắc, chế thì cuốn sách sẽ phong phú và thêm phần sinh khí. Ví như trong này có nhiều Sắc dành cho Thành Hoàng, nếu được tác giả Dương Phước Thu “trích ngang lý lịch” kèm theo (hoặc “chú thích” như đã làm với cụ Phó bảng Dương Phước Vịnh) thì hay biết mấy; dẫu rằng cũng như một số nhân vật được ban dụ thờ tự trong sách không phải quá xa lạ với tín ngưỡng ở các làng quê Việt, đơn cử Thiên Y A Na thánh mẫu. Một vị khác: ông Trương Như Cương, trong Chế phong dưới triều Phúc Kiến năm thứ nhất (1884) có nói thân thế là “Án sát sứ tỉnh Thanh Hóa”. Độc giả hẳn sẽ rất muốn có thêm thông tin về ông bởi, riêng Chế phong qua các triều vua ban cho tổ mẫu, tổ phụ, thân mẫu, thân phụ của ông đã lên tới 24 bản (trong tổng số 89 sắc/chế phong có trong sách). Quả là đặc biệt! Thiết nghĩ việc này chỉ là vấn đề thời gian chứ không hề nằm ngoài khả năng của tác giả.
 
Văn bản Hán Nôm làng Hiền Lương gần như là cuốn sách đầu tiên ở Thừa Thiên Huế tập hợp khá đầy đủ các Sắc phong, Chế phong, Văn chuông, Văn bia, Văn tế của riêng một ngôi làng. Nước Việt ta khắp nơi có rất nhiều ngôi làng giàu tầng sâu văn hóa tương tự, đặc biệt là hệ thống các câu đối (tinh túy của ngôn ngữ, khái quát được địa thế, văn hóa của làng, nước). Thế nên Văn bản Hán Nôm làng Hiền Lương được xem là một “kênh” tham khảo quan trọng.

 

Nhụy Nguyên
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số không còn là một xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành một động lực phát triển cốt lõi của các quốc gia và địa phương. Với cấu trúc gồm ba trụ cột chính: Kinh tế số lõi, kinh tế nền tảng số và kinh tế số hóa các ngành, mô hình này đang tái định hình cách thức tạo ra giá trị, phân phối nguồn lực và tổ chức đời sống xã hội.

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới
Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh

Chiều 31/3, tại TP. Huế, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp với UBND thành phố tổ chức hội thảo báo cáo giữa kỳ dự án “Xây dựng thành phố Huế văn hóa và du lịch thông minh” - một trong những dự án ODA có quy mô lớn, được kỳ vọng tạo cú hích cho tiến trình phát triển đô thị thông minh gắn với bảo tồn di sản.

Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh
Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục

Xuất phát từ góc nhìn từ thực tiễn của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, nhiều thế hệ ở Trung tâm Bảo tồn đi tích Cố đô Huế luôn trăn trở trước câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ “được giữ gìn”...

Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục
Bảo vệ di sản, kiến tạo tương lai

Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường, câu chuyện bảo vệ và phát huy giá trị di sản trở thành nhiệm vụ chiến lược. Không chỉ là sự tri ân quá khứ, bảo tồn di sản ngày nay là trách nhiệm kiến tạo tương lai; chuyển hóa giá trị văn hóa thành sức mạnh mềm, nguồn lực đổi mới sáng tạo và động lực phát triển bền vững.

Bảo vệ di sản, kiến tạo tương lai

TIN MỚI

Return to top