ClockThứ Năm, 14/06/2012 16:30

Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 31

HNN - Thuần đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ ba bên trái tượng trưng cho sự tinh khiết

Bạng

Bạng, tục danh con ngao, chủng loại ngao rất nhiều, sinh sản rất nhanh, sông biển nước lợ các tỉnh đều có. Người làm nghề bắt ngao lâu năm nói: xem con bạng, với con cáp cùng một loại mà hình dáng khác nhau, con dài gọi chung là bạng, con tròn gọi chung là cáp; thịt của ngao ăn ngon và mát, nhiều chất bổ dưỡng, vỏ có thể nung vôi rất tốt, tục gọi vôi hàu. Lại có con ngao ở đầm Hậu Ngư (tức đầm Sam) tự thân nó sinh ra thứ phân châu, tức trân châu. Khoảng đời Minh Mạng, triều đình có sai người lặn xuống đầm tìm ngọc châu, nhưng ngọc còn non, nên sau lại thôi.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng con ngao vào Thuần đỉnh

Tản Viên Sơn

Tản Viên Sơn, tức núi Tản Viên; núi ở địa giới hai huyện Tùng Thiện và Bất Bạt tỉnh Hà Tây cũ - nay thuộc thành phố Hà Nội; núi có ba ngọn cao vót, hình tròn như cái tán; trên núi có dựng đền thiêng. Nhà bác học Lê Quí Đôn từng viết rằng, núi Tản Viên ở địa giới các huyện Bất Bạt và Minh Nghĩa (tức huyện Tùng Thiện), mạch núi từ Mường Thanh liên tiếp chạy dài, đến đây thì nổi vọt ba ngọn thành hàng ở giữa hai sông Thao và sông Đà. Cảnh sắc hai bờ lưu vực xanh tươi, hình thế cao cả, như trấn giữ đất nước; ngọn giữa rất cao, có đền thờ Thượng Đẳng thần, ở đỉnh núi, sườn núi và chân núi có các đền Thượng, Trung và Hạ, núi cao sát trời xanh, suốt ngày có mây bao phủ. Theo Bắc Thành địa dư chí của Lê Đại Cương thời nhà Nguyễn, núi này ở bốn mặt có sông bao bọc, cây cối um tùm, hình thế đẹp sáng, trên núi có giống cỏ kỳ lạ, có tên “vô phong độc dao” (không có gió mà cỏ vẫn lay động); thân cỏ có hai nhánh, tự chụm vào nhau và tự tách ra. Tương truyền, người ta đeo thứ cỏ này (như đeo bùa) trong mình thì duyên vợ chồng ngày càng thắm thiết và son sắt hơn.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng núi Tản Viên vào Thuần đỉnh; năm Tự Đức thứ 3, 1850, liệt Tản Viên vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ, hàng năm triều đình sai quan sắm lễ vật đến tế thần núi.

Núi Tản Viên ngày nay thuộc xã Thủ Pháp, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, nằm ở cuối tây nam tỉnh Hà Tây cũ, giáp tỉnh Hòa Bình, nên núi còn được gọi là núi Ba Vì. Núi có ba đỉnh cao (núi Ông, núi Bà, núi Chẹ), đỉnh núi cao nhất là 1296m ngày đêm mây phủ, ngọn giữa có hình thắt cổ bồng, trên tỏa ra như cái tán nên gọi là Tản Viên. Núi thiêng này là ngọn danh sơn rất nổi tiếng của nước Việt Nam từ cổ xưa. Tương truyền núi Tản Viên là nơi vua Hùng chấp thuận cho thần Sơn Tinh chọn để đóng đại bản doanh dàn quân chống nhau với thần Thủy Tinh, tranh tài lấy nàng Mỵ Nương xinh đẹp, và nhờ sơn thần hỗ trợ, Sơn Tinh đã thắng Thủy Tinh. Trên núi bây giờ vẫn còn đền thờ thần Sơn Tinh trị thủy.

Người xưa còn nói rằng, những lễ vật mà thần Sơn Tinh đem dâng lên vua Hùng, như “Gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” đều được lấy từ vùng rừng núi này. Đúng là “Ba Vì cao ngất tầng mây / Sơn Tinh chuyện cũ đến nay vẫn còn”.

Theo các nhà địa lý cổ, Tản Viên là núi tổ của hệ sơn mạch nước ta, chân núi, lưng chừng núi đều có nhiều huyệt kết tụ thành linh khí phù hợp với âm trạch. Ai có đức lớn được trời giúp mới mong tầm ra một huyệt mộ an nghỉ ngàn thu tại vùng sơn địa này.

Đào

Đào, tục danh là đào đất, chữ Hán là Xích ty đào. Thơ của vua Minh Mạng có bài Vịnh xích ty đào lược chú rằng: Loại đào này thân cây thấp, lá dày lớn, sắc lục sáng ngời, hoa đỏ tươi có tơ rủ xuống, nên gọi tên ấy (xích ty đào, tức đào tơ đỏ). Quả đào trên dẹt dưới rộng, vỏ đỏ, ruột trắng như bông, không được thơm ngọt lắm, nhưng trông có vẻ khả ái, đem sánh với các loại đào khác thì đào này tốt đẹp hơn, tưởng như ở phương Bắc không có thứ thổ sản ấy. Quả đào đất là một loại dược liệu của thuốc Nam, dùng bồi bổ sức khỏe. Ở vùng Tây Bắc của Việt Nam trồng nhiều giống đào này.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng cây đào đất vào Thuần đỉnh.

Đăng Sơn Ngư

>> Thông tin liên quan:

Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 30

Đăng Sơn Ngư, tục danh con cá rô (40); có mấy loại: còn nhỏ thì gọi rô răm, già thì gọi rô xù. Sau này (khoảng 1950) người ta nhập một loại nữa từ Phi Luật Tân về nuôi có tên gọi là rô phi, sản lượng thịt cá rô rất cao và ngon. Mình cá rô rất nhiều nhớt. Nước khô thì lấy mang chống xuống đất mà đi trên cạn. Sống chủ yếu ở đồng ruộng, sông ngòi, ao cạn, nó có thể nhảy xa bằng vây. Mùa mưa rào, nó thường ngược dòng nước chảy, phi lên bờ, chống vây nhảy đi nên có tên như vậy.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng con cá rô vào Thuần đỉnh.

(40). ĐNNTC, Sài Gòn XB, (1962), chép là Quá sơn ngư. Có lẽ do chữ đăng phạm húy tên vua Kiến Phúc (tức Nguyễn Phúc Ưng Đăng) mà phiên trại chữ đăng ra chữ quá.

(Còn nữa)

Dương Phước Thu

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Từ Huế nghĩ về Luật Phát triển công nghiệp văn hóa

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra lấy ý kiến trong bối cảnh văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia. Nhìn từ Huế - vùng đất mà di sản đã trở thành căn cước đô thị, Festival đã thành thương hiệu và sáng tạo ngày càng gắn với du lịch, công nghệ, thiết kế - có thể thấy rõ điều một đạo luật mới cần làm: tạo cơ chế để những giá trị được tích tụ qua nhiều thế hệ tiếp tục sống trong đời sống đương đại, hình thành sản phẩm, tài sản trí tuệ và thị trường mà vẫn giữ được bản sắc riêng của văn hóa Huế.

Từ Huế nghĩ về Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Gần 300 học giả tham dự Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Theo kế hoạch, ngày 18/7, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”.

Gần 300 học giả tham dự Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Giữ nếp nhà, dựng xây quốc gia thịnh vượng

Ngày Gia đình Việt Nam 28/6 với chủ đề “Gia đình hạnh phúc - Quốc gia thịnh vượng” gợi mở một thông điệp sâu sắc: sự phồn vinh của đất nước không chỉ được tạo nên từ những công trình lớn, những chỉ số tăng trưởng hay những chiến lược phát triển dài hạn, mà còn bắt đầu từ từng mái nhà bình yên. Với Huế - vùng đất của di sản, gia phong, nền nếp và chiều sâu văn hóa - câu chuyện gia đình càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi trong mỗi gia đình Huế không chỉ có tình thân, mà còn có ký ức, lễ nghĩa, sự tinh tế và cốt cách văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Giữ nếp nhà, dựng xây quốc gia thịnh vượng

TIN MỚI

Return to top