ClockThứ Năm, 03/05/2012 14:02

Đôi nét về điệu Nam Bình

HNN - Công chúa Huyền Trân là một nhân vật lịch sử. Người con gái tài sắc, đức độ, giữa tuổi đôi mươi đã gạt lệ, kết duyên cùng vua Chế Mân nước Chiêm Thành vào năm 1306 theo sự sắp đặt của vua cha Trần Nhân Tông và triều đình Đại Việt. Cuộc hôn nhân Việt – Chàm nổi tiếng này đã đưa lại đất "hai châu Ô, Lý vuông nghìn dặm" cho quốc gia Đại Việt.

Biết bao nhà nghiên cứu, sưu tầm, văn nghệ sỹ đã lấy sự kiện lịch sử mối tình Huyền Trân – Chế Mân làm đề tài sáng tạo của mình. Điệu Nam Bình – một bài bản ca Huế, là một bài bản “lớn” – như giới trong nghề vẫn gọi, đã có một lời ca nổi tiếng, viết về sự kiện nổi tiếng này. Bài ca ấy có đầu đề “Tình phân ly” và theo nhà nghiên cứu, nhà báo Dương Phước Thu, thì tác giả của bài Nam Bình “Tình phân ly” chính là của ông Võ Chuẩn. Ông là người con của Thừa Thiên Huế, quê Hương Thủy, từng giữ chức Tổng đốc Nghệ An. Tác giả sáng tác lời ca này vào khoảng những năm 30, 40 của thế kỷ XX. Sau đây là lời của bài ca Nam Bình này:

Tình phân ly
 
Nước non nghìn dặm ra đi
Cái tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô – Ly
Đắng cay vì
Đương độ xuân thì.
Độ xuân thì
Cái lương duyên hay là nợ duyên gì
Má hồng da tuyết
Quyết liều thân như hoa tàn trăng khuyết
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca sao còn mường tượng nghe gì!
Thấy chim hồng nhạn bay đi
Tình lai láng, bóng dương hoa quỳ…
Dặn một lời Mân quân
Nay chuyện đà như nguyện
Đặng vài phân
Vì lợi cho dân
Tình đem lại mà cân
Đắng cay muôn phần…!
 
Có thể nói, nhiều cái “nổi tiếng” gặp nhau đã làm cho bài ca Nam Bình “Tình phân ly” trở thành bất tử. Chúng tôi nghĩ, lời bài ca trên cần được khắc trên một tấm bia dựng ở Trung tâm Văn hóa Huyền Trân. Bài ca này được dựng để phát thanh ở đền. Người dân và khách thập phương khi đến viếng đền, tâm hồn càng được lắng đọng trong âm điệu và lời ca của điệu Nam Bình khiến không khí tưởng niệm càng được tôn thêm. Chúng tôi còn thấy một bản khác của lời ca này. Ba chữ “Cái lương duyên” thay bằng “Số lao đao”. Thiết nghĩ “Số lao đao” làm hạ thấp ý nghĩa lớn lao của hành động công chúa Đại Việt kết duyên cùng vua Chiêm Thành đầu thế kỷ XIV.
 
Nhân đây, xin nói vài điều về điệu Nam Bình. Như chúng ta đã biết, trong kho tàng ca nhạc Huế được bảo tồn đến nay có điệu Nam Bình. Không có cơ sở nào để cho rằng, điệu Nam Bình như ta biết hiện nay có từ đầu thế kỷ XIV. Đó là một sự ngộ nhận của một vài ý kiến, vì chỉ căn cứ vào nội dung của bài Nam Bình “Tình phân ly” trên kia. Vốn thuộc ca nhạc Huế, điệu Nam Bình bắt nguồn từ dòng âm nhạc bình dân và bác học, và cũng nằm trong quy luật là chịu sự giao thoa, thu nạp các nền âm nhạc khác. Ca nhạc Huế có từ lâu, nhưng các bài bản ca Huế phát triển từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Có người cho rằng, điệu Nam Bình là điệu Bình định phương Nam có từ đời Lê Thánh Tông (nửa sau thế kỷ XV) khi triều đình phong kiến Việt Nam đánh Chiêm Thành. Rất tiếc là ngày nay chúng ta không còn biết bài bản của điệu Bình định phương nam ra sao. Nhưng phải chăng, điệu Nam Bình đã lấy âm hưởng của nhạc Chiêm Thành nói chung hay điệu Bình định phương Nam nào đó để phát triển và định hình, cho ta một bài bản ca Huế nổi tiếng?
 
Điệu Nam Bình thật đặc sắc, âm nhạc du dương, buồn man mác mà không bi lụy, thâm trầm da diết mà vẫn bay bổng lâng lâng. Lời ca Huế nói chung và điệu Nam Bình nói riêng được sáng tác trau chuốt, hàm súc, lời ít ý nhiều. Điệu Nam Bình còn có các tên gọi mà ngày nay không ai còn gọi, đó là Vọng Giang Nam hay Hạ Giang Nam.
 
Gần đây có bác Minh Cầm, người bạn đời của nghệ sỹ ca Huế Minh Tâm, hiện đang sống ở Thành phố Huế cho chúng tôi biết điệu Nam Bình còn có phần đầu nữa, tức là Thủ Nam Bình. Phần ta đang ca và tấu nhạc hiện nay là phần mình và đuôi Nam Bình. Rất mong có ngày có cả ba phần điệu Nam Bình trọn vẹn.
Minh Khiêm
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Huế đã chạm ngưỡng “công nghiệp di sản”?

Trong đợt nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay, Huế ghi nhận doanh thu du lịch ước đạt gần 1.000 tỷ đồng là một con số khiến nhiều người phải nhìn lại. Thực tế cho thấy, khi di sản được kích hoạt đúng cách, nó có thể trở thành một động lực kinh tế thực sự.

Huế đã chạm ngưỡng “công nghiệp di sản”
Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số không còn là một xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành một động lực phát triển cốt lõi của các quốc gia và địa phương. Với cấu trúc gồm ba trụ cột chính: Kinh tế số lõi, kinh tế nền tảng số và kinh tế số hóa các ngành, mô hình này đang tái định hình cách thức tạo ra giá trị, phân phối nguồn lực và tổ chức đời sống xã hội.

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới
Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh

Chiều 31/3, tại TP. Huế, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp với UBND thành phố tổ chức hội thảo báo cáo giữa kỳ dự án “Xây dựng thành phố Huế văn hóa và du lịch thông minh” - một trong những dự án ODA có quy mô lớn, được kỳ vọng tạo cú hích cho tiến trình phát triển đô thị thông minh gắn với bảo tồn di sản.

Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh
Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục

Xuất phát từ góc nhìn từ thực tiễn của hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, nhiều thế hệ ở Trung tâm Bảo tồn đi tích Cố đô Huế luôn trăn trở trước câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ “được giữ gìn”...

Đưa di sản thành tài nguyên giáo dục

TIN MỚI

Return to top