Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hiện nay, nhu cầu sử dụng năng lượng trên địa bàn thành phố tăng nhanh ở nhiều lĩnh vực, từ công nghiệp, dịch vụ đến sinh hoạt dân cư. Đặc biệt trong các tháng cao điểm mùa khô trong năm, tình trạng nắng nóng kéo dài khiến nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến.
Theo số liệu của Công ty Điện lực Huế (PC Huế), những năm qua, phụ tải sinh hoạt có thể tăng từ 20 - 25% trong các đợt cao điểm, tạo áp lực không nhỏ lên hệ thống cung ứng. Dự kiến năm 2026, mức tiêu thụ điện cao nhất trên địa bàn thành phố có thể đạt khoảng 435 MW, tăng 8,1% so với năm 2025.
Không chỉ chịu tác động từ nhu cầu nội tại, thị trường năng lượng thế giới trong những năm gần đây có nhiều biến động khó lường. Giá nhiên liệu đầu vào như than, dầu và khí đốt từng thời điểm tăng cao, đặc biệt gần đây nguồn cung gặp khó khăn do ảnh hưởng của xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và biến đổi khí hậu. Những yếu tố này không chỉ làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất điện mà còn tác động trực tiếp đến khả năng đảm bảo nguồn cung năng lượng của quốc gia nói chung và các địa phương nói riêng.
Thời gian qua, cùng với xu thế phát triển kinh tế xanh, thành phố Huế từng bước phát triển các nguồn năng lượng tại chỗ, nhất là nguồn năng lượng tái tạo nhằm bổ sung cho hệ thống điện quốc gia. Đến nay, trên địa bàn thành phố có 16 nhà máy điện cùng 530 hệ thống điện mặt trời mái nhà, với tổng công suất khoảng 618,3MW. Sản lượng điện bình quân hằng năm đạt khoảng 2,1 - 2,2 tỷ kWh; riêng năm 2025 đạt khoảng 2,6 tỷ kWh. Trong cơ cấu nguồn điện, thủy điện vẫn đóng vai trò chủ lực với 13 nhà máy, tổng công suất 459,3MW, phân bố ở các khu vực. Các công trình này không chỉ cung cấp điện mà còn góp phần điều tiết nước, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, phòng chống thiên tai. Bên cạnh đó, điện mặt trời là loại hình phát triển nhanh trong thời gian qua, với 2 nhà máy điện mặt trời mặt đất tại Phong Điền (cũ) có công suất 77MW và hàng trăm hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 61MW. Ngoài ra một số nguồn năng lượng mới, như: Nhà máy điện rác Phú Sơn (12MW) và hệ thống tận dụng nhiệt khí thải tại Nhà máy xi măng Đồng Lâm (9MW) bước đầu đưa vào khai thác, góp phần đa dạng hóa nguồn cung.
 |
| |
Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành công thương, quy mô phát triển năng lượng ở địa phương vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển. Các nguồn năng lượng hiện có vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Thủy điện phụ thuộc lớn vào điều kiện thủy văn, trong khi điện mặt trời phụ thuộc vào thời tiết và chưa có hệ thống lưu trữ năng lượng quy mô lớn. Điều này khiến khả năng cung ứng điện trong các thời điểm cao điểm hoặc khi thời tiết bất lợi vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Hiện nay, trong cơ cấu sản lượng điện cung ứng cho lưới điện quốc gia, nhiệt điện than vẫn giữ vai trò chủ đạo với tỷ trọng khoảng 50%. Tiếp theo là thủy điện chiếm 22%, năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) khoảng 15 -16%, nhiệt điện khí (gas, dầu DO…) khoảng 6 - 7%, nhập khẩu 4%, còn lại là các nguồn điện khác (sinh khối, diesel…). Giá than và dầu khí trên thị trường thế giới tăng, khó mua, khó vận chuyển do xung đột tại khu vực Trung Đông, cùng với thời tiết đang chuyển sang trạng thái El Nino cũng là những thách thức lớn đối với việc đảm bảo cung ứng điện trong thời gian tới.
 |
| |
 |
| |
Trước những áp lực trên, ngành điện và các cơ quan chức năng địa phương đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định. PC Huế đã chủ động xây dựng các phương án vận hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với hệ thống điện quốc gia để đảm bảo cung ứng điện trong mùa nắng nóng. Cùng với đó, việc đầu tư nâng cấp lưới điện, đặc biệt tại các khu vực có phụ tải lớn như khu công nghiệp (KCN) và khu đô thị mới được đẩy mạnh nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện. Giai đoạn 2021 - 2025, PC Huế đã hoàn thành 4 dự án lưới điện 110kV với tổng chiều dài hơn 36,5km đường dây và bổ sung 160MVA công suất trạm.
Ở cấp điện áp trung và hạ áp, 180 dự án đã được hoàn thành, gồm hơn 350km đường dây trung áp, hơn 453km đường dây hạ áp và hơn 287MVA công suất trạm biến áp, góp phần ổn định nguồn cung, giảm tổn thất điện năng.
Từ nay đến năm 2027, ngành điện địa phương triển khai nhiều dự án trọng điểm với quy mô hơn 48km đường dây 110kV và bổ sung 63MVA công suất trạm biến áp. Đồng thời, các dự án trung, hạ áp phục vụ phát triển đô thị, khu kinh tế, KCN cũng được đầu tư với 24 dự án dự kiến triển khai, bổ sung hơn 34km đường dây trung áp, hơn 87km đường dây hạ áp và tăng thêm 31,34MVA công suất trạm.
Các giải pháp kỹ thuật như tự động hóa lưới điện, giảm tổn thất điện năng và rút ngắn thời gian xử lý sự cố cũng được triển khai, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ. Song song với đó, các chương trình sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả được đẩy mạnh trong doanh nghiệp, công sở và cộng đồng, nhất là vào khung giờ cao điểm.
Sự phát triển của các lĩnh vực du lịch, dịch vụ, giao thông vận tải và sản xuất công nghiệp kéo theo nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu ngày càng lớn. Không riêng điện năng, nhu cầu về xăng dầu, khí đốt và các dạng năng lượng khác tại thành phố Huế cũng đang gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên hệ thống dự trữ, phân phối năng lượng trên địa bàn vẫn còn hạn chế, nhất là ở khu vực vùng sâu, vùng xa.
Tại hội nghị góp ý xây dựng đề án phát triển công nghiệp thành phố giai đoạn 2025 - 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, TS. Hoàng Trường, Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách (Bộ Công Thương) cho rằng, để đảm bảo an ninh năng lượng một cách toàn diện, cần phát triển đồng bộ về nguồn điện, hệ thống cung ứng nhiên liệu, khí đốt và nâng cao năng lực dự trữ.
Trước tình hình trên, mặc dù điều kiện thủy văn tại các hồ thủy điện đầu năm 2026 được đánh giá khá thuận lợi, nhưng qua kinh nghiệm từ mùa hè thiếu điện tại khu vực miền Bắc và một số tỉnh Bắc Trung bộ năm 2023, các nhà máy thủy điện trên địa bàn thành phố đang được điều tiết tích nước để vận hành trong mùa nắng nóng. Tại thời điểm này, ở Nhà máy thủy điện A Lưới (công suất 170MW), dung tích hữu ích khoảng 6,055 triệu m³ (chiếm 24,8% dung tích hữu ích của hồ). Dự kiến sản lượng điện quý II/2026 khoảng 77,632 triệu kWh (tương đương các năm 2023, 2024). Tại nhà máy thủy điện A Bin B1 (46MW), mực nước hồ đang ở cao trình +601,3m, tương ứng dung tích hữu ích 1,18 triệu m³, dự kiến sản lượng điện quý II/2026 khoảng 27,8 triệu kWh, cao hơn các năm 2023, 2024 khoảng 25%.
 |
| |
Ông Trương Hoàng Công Danh, Trưởng phòng Quản lý Năng lượng (Sở Công Thương) cho biết, tại buổi làm việc giữa Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) về công tác đảm bảo cung ứng điện năm 2026, các đơn vị chuyên môn nhận định nhu cầu sử dụng điện trong mùa khô năm nay có khả năng tăng mạnh do nắng nóng kéo dài, trong đó phụ tải sinh hoạt có thể tăng khoảng 25% vào các thời điểm cao điểm. Cũng theo ông Trương Hoàng Công Danh, để chủ động ứng phó, NSMO đã xây dựng các phương án huy động tối đa nguồn khí thiên nhiên trong nước, đồng thời ưu tiên sử dụng nguồn khí LNG nhập khẩu có giá thành phù hợp nhằm phục vụ phát điện, góp phần đảm bảo vận hành hệ thống điện an toàn, hiệu quả.
NSMO cũng đề xuất tăng cường phối hợp giữa các Tổng công ty Điện lực thuộc EVN với chính quyền địa phương trong việc xây dựng phương án tiết giảm phụ tải theo từng cấp độ khi cần thiết. Đồng thời, kiến nghị đẩy nhanh triển khai các dự án lưu trữ năng lượng (BESS), thiết bị bù công suất và các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng hỗ trợ, ổn định hệ thống điện quốc gia, trong đó có địa bàn thành phố Huế.