ClockThứ Sáu, 13/02/2026 15:22

Ngựa trong thơ Hoàng đế Thiệu Trị

HNN - Hoàng đế Thiệu Trị là một tác giả đặc sắc trong dòng văn học trung đại. Bút lực của nhà vua sung mãn, làm thơ hàng ngày với hứng khởi từ công việc triều chính cộng hưởng với cuộc sống xung quanh. Đặc biệt, nhà vua có tập thơ Ngự đề đồ hội thi tập, trong tập này, có phần Ngự đề nhân, vật đồ hội thi tập. Ở phần đề vịnh vật, ngoài các đề vịnh các loài hoa, quả, có 12 bài thơ vịnh 12 con vật gồm sư tử, hổ, báo, beo, voi, ngựa, gấu, nai, hươu, dê, trâu, lạc đà.

Thơ Vua Thiệu Trị: Những giá trị chưa phải ai cũng biết

Ảnh minh họa  

Điều thú vị là tương ứng với mỗi bài thơ là một bức tranh vẽ minh họa con vật được đề vịnh ấy. Các bức tranh vẽ đều do Bộ Công thực hiện. Tại tờ 39b, 40a quyển 14 là bức tranh vẽ con ngựa và bài thơ vịnh về con ngựa (Mã) của vua Thiệu Trị. Nhân năm Bính Ngọ, xin giới thiệu bài thơ đề vịnh và bức tranh này:

Phiên âm: MÃ

Đan thanh bút pháp diệu hà cùng,

Tứ đại tam cao cốt cách hùng.

Xuất loại cửu lương tương trục điện,

Siêu quần bát tuấn dục truy phong.

Khẳng thùy hoạt thủy đầu Tiền ký,

Bất tốn hoàng trì phún Ngọc thông.

Trí viễn nhậm lao thiên lý chí,

Liên hoàn tham thặng trứ nhung công.

Dịch thơ:  NGỰA

Bút vẽ tài hoa tuyệt đến cùng,

Thân cao dáng mạnh cốt anh hùng.

Chín đời, hơn giống phi theo chớp,

Tám ngựa, vượt nòi phóng đua phong.

Lội nước kém chi Tiền Ký ngựa,

Phun mưa cũng sánh Ngọc Thông giồng.

Sức bền ngàn dặm cùng theo chí,

Ra trận cùng xe lập chiến công.

Bài thơ “Mã” của Vua Thiệu Trị là một thi phẩm đặc sắc viết về hình tượng con ngựa, nhưng không chỉ dừng lại ở tả thực, mà còn là một ẩn dụ về nhân cách và chí khí của bậc trượng phu, anh hùng thời loạn. Qua ngôn ngữ đầy điển cố, vận dụng linh hoạt cả nghệ thuật ngôn từ lẫn hội họa đã biến hình tượng ngựa trở thành biểu tượng của tài năng, sức mạnh và chí hướng vươn xa.

Bút vẽ tài hoa tuyệt đến cùng (Đan thanh bút pháp diệu hà cùng) mang ý tán dương tuyệt đối, ngòi bút vẽ ngựa đã đạt đến mức “diệu hà cùng”, tài khéo không bờ bến. Ở đây, “bút pháp” vừa chỉ kỹ pháp hội họa, vừa là ẩn dụ cho bút pháp thi nhân. Bức “mã đồ” trong thơ vì thế không phải một bức họa chết, mà là bức tranh sống bằng ngôn từ, nơi đường nét, hình khối và linh hồn của con ngựa được khắc họa qua thi tứ. Thi nhân đã hòa làm một giữa thi và họa, một đặc điểm quen thuộc trong thi học Đông Á, nơi “thi trung hữu họa, họa trung hữu thi”.

Tác giả đã đề cập đến thuật ngữ của họa pháp vẽ ngựa truyền thống: Tứ đại tam cao cốt cách hùng, trong đó, “tứ đại” gồm đầu, ngực, bụng, mông; và “tam cao” gồm lưng, cổ, đầu. Đây là kỹ pháp mô tả vóc dáng lý tưởng của một tuấn mã. Nhưng vượt lên kỹ thuật hội họa, tác giả muốn nói đến tư thế của người quân tử: Cốt cách vững, đầu ngẩng cao, thân thế tráng kiện. Từ “cốt cách hùng” vừa tả hình, vừa tả thần, biểu hiện nội lực, chí khí và phong độ cương cường. Trong truyền thống văn hóa Hán học và mỹ học phương Đông, ngựa vốn là biểu tượng của trung trinh, nghĩa dũng, và khát vọng tung hoành.

Điều đáng chú ý là phép tu từ “bất tốn” (chẳng kém), “khẳng thùy” (há chịu nhường) thể hiện tinh thần tự tin và khát vọng vượt trội. Ở đây, ngựa không chỉ là ngựa, mà là hình bóng của người tài tử, tự biết mình có chí khí, có tài năng, dẫu chưa gặp minh chủ thì vẫn sẵn sàng vươn mình.

Kết lại bài thơ, tác giả hướng về ý nghĩa nhân sinh và đạo lý hành động: “Thiên lý chí” (chí đi ngàn dặm) không chỉ nói về sức bền của ngựa, mà là ẩn dụ cho chí hướng của con người có hoài bão lớn; “Nhậm lao” (chịu nhọc) cho thấy phẩm chất cần mẫn, tận tụy, biểu hiện của đức bền bỉ và trung nghĩa. Hình ảnh “liên hoàn tham thặng” và “trứ nhung công” đặt con ngựa trong bối cảnh chiến trận. Nó không còn là vật trang sức mà là bạn đồng hành của chiến binh sa trường, góp phần lập nên chiến công nơi biên ải. Qua đó, bài thơ khép lại bằng âm hưởng tráng lệ, bi hùng, đưa hình tượng con ngựa lên ngang hàng với người anh hùng.

Toàn bài là sự kết hợp tuyệt đẹp giữa nghệ thuật tạo hình và thi tứ anh hùng ca. Tất cả hợp thành hình tượng con ngựa, biểu tượng cho con người lý tưởng, người biết mình có tài, có chí, có sức, sẵn sàng gánh vác đại nghiệp. Về mặt thi học, bài thơ tiêu biểu cho truyền thống ca tụng mã và anh hùng trong văn học cổ: từ “Thiên lý mã” của Bạch Cư Dị, đến “Mã” của Đỗ Phủ, hay “Thiên lý mã nan tầm” của Hàn Dũ. Nhưng ở đây, chất “đan thanh” khiến bài thơ mang phong vị riêng, vừa là tranh, vừa là thơ, vừa là tuyên ngôn về chí khí con người. Bài thơ không chỉ ca ngợi con ngựa mà còn dựng nên một biểu tượng thẩm mỹ của sức mạnh, lòng trung thành và khát vọng vươn xa. Đằng sau vóc dáng oai hùng của tuấn mã là hình ảnh con người tài năng, khí phách, hướng về lý tưởng lớn lao, tinh thần ấy chính là linh hồn của thi phẩm.

Nguyễn Phước Hải Trung
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Nỗi đau lên men thành con chữ…

Sinh ra ở xứ Nghệ, nếu cứ ở đó mà sinh kế, lập nghiệp và làm thơ tình yêu thì tôi dám chắc đã không thành đường nét, thành khí vị, thành dung nhan trong thơ như Lưu Ly bây giờ. Nói thế có quá lời chăng?

Nỗi đau lên men thành con chữ…

TIN MỚI

Return to top