ClockThứ Tư, 31/07/2019 20:36

Lao động di cư đóng góp rất lớn vào sự phát triển của Đông Nam Á

HNN - Nhu cầu tuyển dụng lao động của các nền kinh tế đang phát triển và già hóa ở Đông Nam Á đang ngày càng tăng. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều người di cư nắm bắt cơ hội này để cải thiện cuộc sống, phụ nữ di cư luôn là nhóm dân đứng trước nguy cơ bị bóc lột và lạm dụng, bao gồm cả việc trở thành nạn nhân của hoạt động buôn bán người bất hợp pháp.

Thế giới có 150 triệu lao động di cưNhững rào cản của Nhật Bản trước làn sóng di cư Đông Nam Á

Các tổ chức quốc tế lên tiếng kêu gọi các chính phủ và chủ thể triển khai những gì cần làm để chấm dứt rủi ro đối với lao động di cư. Ảnh: Nikkei News

Tính đến thời điểm hiện tại, có khoảng 10 triệu lao động di cư tại 10 quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Một nửa trong số đó là phụ nữ và con số này đang ngày càng tăng lên. Ước tính đến năm 2030, Malaysia, Singapore và Thái Lan sẽ đối diện với sự thiếu hụt đáng kể, vào khoảng 10% - 30% người trong độ tuổi lao động, trong khi Campuchia, Lào và Myanmar lại dư thừa.

Trước nhu cầu lao động tăng cao trên khắp khu vực, người di cư đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại các quốc gia. Tuy nhiên, bất chấp sự đóng góp của họ, người lao động di cư, đặc biệt là phụ nữ vẫn đối mặt với rất nhiều rủi ro và bất công như chịu bạo lực và lạm dụng trong suốt hành trình di cư, chịu bạo lực và lạm dụng bởi chủ lao động, môi trường làm việc không đảm bảo... Song quyền tiếp cận các dịch vụ bảo vệ và hỗ trợ đối với nhóm người này lại rất hạn chế.

Là một trong những biện pháp bảo vệ, lao động, đặc biệt là lao động nữ phải tuân theo quy định của các chính sách nhập cư hạn chế dựa trên tuổi tác, điểm đến hoặc nghề nghiệp. Nhưng hầu như các hạn chế này không phát huy đủ tác dụng, nhất là khi Cơ quan Phụ nữ Liên Hiệp quốc (UN Women) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho thấy có rất nhiều cá nhân vẫn di cư tìm việc thông qua các kênh trung gian không đảm bảo.

Trong lúc những người sử dụng lao động và tội phạm vô đạo đức thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ, tương ứng khoảng 150 tỷ USD/năm, nạn nhân và gia đình họ lại phải chịu tổn thất và mất mát vô cùng to lớn. Doanh nghiệp và người sử dụng lao động tuân thủ theo luật pháp cũng bị ảnh hưởng.

Cho đến nay, một số biện pháp đã được ASEAN áp dụng để giải quyết vấn nạn, bao gồm 10 quốc gia đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, 9 quốc gia phê chuẩn Nghị định thư ngăn chặn, phòng chống và trừng trị việc buôn người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Không dừng lại ở đó, những biện pháp toàn diện hơn cũng yêu cầu không chỉ chính phủ, mà cả người lao động, người sử dụng lao động và các bên liên quan cần phối hợp với nhau để chống lại nạn buôn người. Các tổ chức quốc tế và mạng lưới của họ phải được sử dụng để cung cấp kiến thức và hỗ trợ phát triển năng lực thực thi pháp luật về giới, cũng như nâng cao năng lực của các sĩ quan tiền tuyến hoạt động trong các lĩnh vực có người lao động đối mặt với nguy cơ bị cưỡng bức cao.

Có thể nói, lao động di cư có khả năng và sẽ góp phần vào sự tăng trưởng toàn diện, bền vững của khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Đảm bảo di cư công bằng, an toàn sẽ loại bỏ các mối nguy hiểm đối với lao động di cư và tạo điều kiện để lao động di cư phát huy tài năng và sự đóng góp của mình.

Hạnh Nhi

(Lược dịch từ Thomson Reuters Foundation News)

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Nghiên cứu hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục

Trong bối cảnh đổi mới đòi hỏi những đột phá về phát triển giáo dục, việc nghiên cứu, xác lập cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế hệ thống giáo dục là yêu cầu cấp thiết, nhằm tạo động lực cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Nghiên cứu hoàn thiện thể chế phát triển hệ thống giáo dục
Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới (26/4):
Sở hữu trí tuệ - động lực phát triển trong thời đại số

Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới (26/4) là dịp để tôn vinh vai trò của sáng tạo, đổi mới và hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2026, trong bối cảnh chuyển đổi số và thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ pháp lý mà còn trở thành nền tảng quan trọng giúp địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định tên tuổi.

Sở hữu trí tuệ - động lực phát triển trong thời đại số
Phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực địa phương

Cùng với lợi thế về tài nguyên văn hóa, làng nghề và đặc sản, phát triển tài sản trí tuệ từ nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý ở Huế được xem là đòn bẩy để nâng tầm giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và thu hút đầu tư.

Phát triển thương hiệu các sản phẩm chủ lực địa phương
Tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng

Phát triển công nghệ sinh học phải được đặt trong tổng thể triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; ưu tiên nguồn lực nhà nước đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm chủ lực quốc gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nhiệm vụ có khả năng tạo đột phá và lan tỏa lớn.

Tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng
Thường trực Thành ủy làm việc với Đảng ủy các xã Khe Tre, Nam Đông và Long Quảng:
Chủ động thích ứng, tháo gỡ các “điểm nghẽn” để phát triển

Chiều 21/4, Thường trực Thành ủy tổ chức buổi làm việc với Thường trực Đảng ủy các xã Khe Tre, Nam Đông, Long Quảng nhằm rà soát tình hình triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các xã lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.

Chủ động thích ứng, tháo gỡ các “điểm nghẽn” để phát triển

TIN MỚI

Return to top