ClockThứ Năm, 02/05/2013 14:05

Ngôn ngữ trong mặt nạ tuồng Huế

HNN - Đã từng có nhiều cuộc hội thảo đặt ra câu hỏi: Làm thế nào để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật một thời được xem là quốc kịch dưới triều Nguyễn?

Không chọn cách khôi phục các kịch bản, trình thức biểu diễn, tuyển chọn diễn viên… chúng tôi đi tìm một ngôn ngữ tuồng với hai câu thơ được khắc họa trên khuôn mặt của người diễn viên:

Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc

Đứa nịnh râu đen mấy sợi còi

Diễn viên tuồng phải biết làm họa sĩ

Cách đây hơn 1 năm, chúng tôi tìm gặp nghệ nhân La Cháu - nghệ nhân tuồng cung đình cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ cho biết, trong nghệ thuật hát tuồng, chiếc mặt nạ là đạo cụ sân khấu quan trọng bậc nhất của loại hình nghệ thuật này. Có thể nói, mặt nạ là một phần tạo nên cái hồn, cái chất của nghệ thuật tuồng. Dưới ánh đèn sân khấu tuồng, màu sắc dùng trong mặt nạ phải thật đậm, đường nét phải thật rõ, để khắc hoạ cá tính của nhân vật, và nhất là để tăng sự biểu đạt của khuôn mặt diễn viên. Mỗi mặt nạ tuồng tự nó nói lên lòng trung hiếu, lòng nhân ái, tinh thần dũng cảm. Người diễn viên tuồng ngoài việc phải biết hát hay, múa đẹp, còn phải biết làm một họa sĩ để tự kẻ mặt nạ nhân vật. Tuy vậy, một người diễn viên tuồng dù trình độ nghề nghiệp có giỏi đến đâu cũng không thể nào nắm hết tất cả, họ chỉ có thể vẽ được một số ít bộ mặt nạ nhân vật nhất định nào đó mà mình thường đảm nhiệm.

NSƯT La Cẩm Vân hóa trang mặt nạ tuồng Chung Vô Diệm

Theo NSƯT La Cẩm Vân, trước khi biểu diễn, mỗi diễn viên tuồng phải tự hóa trang cho mình bằng cách cảm nhận về tính cách và thân phận của nhân vật, trên nền tảng những quy định chuẩn mực về mặt nạ cho mỗi loại nhân vật. Nhưng khó nhất là vẽ đôi mắt, bởi đây là nơi thể hiện tính cách nhân vật rõ nét nhất. Dù hóa trang theo kiểu mặt nào thì có một điểm chung là vùng sát xung quanh đôi mắt phải được để tự nhiên. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây là dấu vết của việc đeo mặt nạ ngày trước, người khác lại giải thích, trong hát tuồng, con mắt của diễn viên cũng phải tích cực diễn xuất, nên phải chừa trống như thế mới thấy được “cái thần” của đôi mắt.

Mỗi mặt nạ, một tính cách

 Mặt nạ tuồng Huế với ba tông màu chủ đạo là đen - đỏ - trắng và thêm một số màu phụ trợ như: xanh, xám… Mỗi tông màu gắn với từng mô típ nhân vật cụ thể, như: mặt đen - đại diện cho sự rắn chắc; mặt trắng - vẽ sự bạc bẽo; mặt mốc - dành cho kẻ xu nịnh, phản trắc; mặt rằn – kẻ tướng mạo xấu xí, tính tình nóng nảy; mặt đỏ - tỏ rõ sự trung can nghĩa khí...

Các diễn viên tuồng Đồng Ấu dưới triều Nguyễn

Đã từng hóa thân nhiều vai diễn tuồng từ khi còn là diễn viên lớp Đồng Ấu, nghệ nhân La Nguyên cho biết, khi vẽ mặt nạ tuồng, ngoài những quy định chung về tính cách và xuất xứ của nhân vật, nó còn có sự thay đổi, biến chuyển tùy thời điểm, tùy tình thế. Như những nhân vật sống ở miền sông nước hay ở biển đều được gọi là kép sông, kép nước chứ không gọi là kép biển. Tuy ở sông hay ở biển đều là kép nước, nhưng nhân vật ở biển thì phải kẻ mặt màu đỏ, còn ở sông thì phải màu xám. Theo giải thích, nhân vật ở biển chịu nắng nên mặt phải màu đỏ, còn nhân vật sinh sống gần sông, đôi khi, đôi lúc còn được ở chỗ râm, mát nên màu da của nhân vật không thể giống như người miền biển được.

Khi đã theo nghiệp học tuồng, các diễn viên đều phải theo học vẽ mặt nạ. Trước tiên, bản thân người học phải tự nhớ, tự học màu sắc và thứ tự, chi tiết các bước vẽ, rồi tự mày mò, tìm tòi vẽ theo các vai mà các nghệ nhân đã vẽ. Người học phải tự bắt chước chứ không được chỉ vẻ cụ thể phải làm như thế nào, bắt đầu từ đâu…

Theo các nhà nghiên cứu về tuồng, mỗi mặt nạ tuồng khi được vẽ đều mang tính cách điển hình, tính cách ấy theo nhân vật đồng hành xuyên suốt từ đầu đến cuối vở diễn. Do đó, các nét vẽ thường lấy từ các hình tượng như: long, ly, quy, phượng tương ứng để tượng trưng cho vua, quan, sự vĩnh cửu và vẻ đẹp sang quý. Riêng các họa tiết trên khuôn mặt các nghệ nhân xưa căn cứ vào tướng số của con người như: “Những người ti hí mắt lươn, trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người...”, “Đàn ông miệng rộng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà” hay “Râu rìa, lông ngực đôi bên, Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần”… Tính cách của nhân vật liên quan đến loài vật cũng được thể hiện rõ trên từng mặt nạ, như nhân vật Cáp Tô Văn trong vở Đàng Chinh Đông ở thời nhà Đường (Trung Quốc), hiện thân của Cáp Tô Văn là con rồng xanh nên khi hoá trang mặt nạ Cáp Tô Văn cũng có những hoạ tiết tương tự như con rồng. Hoặc vai Yêu cá trong vở Lý Phụng Đình, người xưa gọi Yêu cá là cá hoá rồng nên mặt nạ vừa có sừng vừa có mang tượng trưng như cá. Vai Chung Vô Diệm do kiếp nạn nên phải đội lốt của quỷ Dạ Xoa nên mặt nạ của Chung Vô Diệm rất xấu xí, nhưng khi thoát lốt sẽ trở thành một cô gái cực kỳ xinh đẹp.

Theo ông Trương Tuấn Hải, Giám đốc Nhà hát nghệ thuật truyền thống cung đình Huế, về cơ bản, cách hoá trang mặt nạ tuồng ở ba miền Bắc - Trung - Nam đều giống nhau về việc sử dụng các gam màu vào tính cách của nhân vật. Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ văn hóa đặc trưng của vùng miền, nên mỗi nơi có cách thể hiện nét vẽ khác nhau. Riêng Huế, nơi nghệ thuật tuồng đã đạt đến đỉnh cao, xứ sở của những con người tế nhị có cuộc sống êm đềm bên dòng sông Hương, núi Ngự nên các nét vẽ khi được khắc họa lên gương mặt của người nghệ sĩ cũng nhẹ nhàng, thanh thoát.

Trọng Bình
ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Xung quanh dư luận cho rằng đoạn Hoàng thành vừa được tu bổ “quá mới”:
Công trình được thực hiện đúng quy chuẩn bảo tồn

Đoạn Hoàng thành thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế vừa được tu bổ đang gây tranh cãi. Nhiều ý kiến cho rằng, phần tường thành mới được phục hồi có màu sắc và lớp vữa quá khác biệt, tạo cảm giác “lệch tông” so với vẻ rêu phong quen thuộc của di sản hàng trăm năm tuổi. Ông Hoàng Việt Trung, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế khẳng định: "Công trình được thực hiện theo đúng quy định và các quy chuẩn bảo tồn hiện hành"!

Công trình được thực hiện đúng quy chuẩn bảo tồn
Huế đã chạm ngưỡng “công nghiệp di sản”?

Trong đợt nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm nay, Huế ghi nhận doanh thu du lịch ước đạt gần 1.000 tỷ đồng là một con số khiến nhiều người phải nhìn lại. Thực tế cho thấy, khi di sản được kích hoạt đúng cách, nó có thể trở thành một động lực kinh tế thực sự.

Huế đã chạm ngưỡng “công nghiệp di sản”
Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, kinh tế số không còn là một xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành một động lực phát triển cốt lõi của các quốc gia và địa phương. Với cấu trúc gồm ba trụ cột chính: Kinh tế số lõi, kinh tế nền tảng số và kinh tế số hóa các ngành, mô hình này đang tái định hình cách thức tạo ra giá trị, phân phối nguồn lực và tổ chức đời sống xã hội.

Kinh tế số và cơ hội tái định vị giá trị di sản Huế trong kỷ nguyên mới
Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh

Chiều 31/3, tại TP. Huế, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp với UBND thành phố tổ chức hội thảo báo cáo giữa kỳ dự án “Xây dựng thành phố Huế văn hóa và du lịch thông minh” - một trong những dự án ODA có quy mô lớn, được kỳ vọng tạo cú hích cho tiến trình phát triển đô thị thông minh gắn với bảo tồn di sản.

Định hình không gian văn hóa - du lịch thông minh

TIN MỚI

Return to top