ClockThứ Tư, 19/09/2012 16:42

Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 38

HNN - Dụ đỉnh - Đỉnh đặt hàng thứ tư bên trái tượng trưng cho sự phong phú

Ô Thuyền

Ô Thuyền, tức là loại thuyền đi biển, sơn màu đen, cánh buồm cũng đen (đen như mực); thuyền có 12 tay chèo, được sản xuất nhiều dưới triều Gia Long và Minh Mạng. Vào thời trước nữa, loại thuyền được sơn màu đen thường do bọn cướp biển phía Bắc hay sử dụng để dễ dàng hoạt động và lẩn tránh quan quân tuần tiễu (Cho nên trong dân gian còn lưu truyền: Giặc Tàu Ô).

Triều Nguyễn sơ có trang bị loại thuyền này cho quân tuần tiễu dọc bờ biển. Loại ô thuyền này vừa có buồm vừa có tay chèo nên tốc độ lướt sóng nhanh.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng ô thuyền lên Dụ đỉnh.

Vĩnh Điện Hà

Vĩnh Điện Hà, tức sông Vĩnh Điện, con sông đào ở tỉnh Quảng Nam. Cửa sông khai đào ở làng Câu Nhi cũ chảy về phía bắc đến làng Cổ Mân, hợp với sông Cẩm Lệ rồi đổ ra Cửa Hàn, tức cửa biển Đà Nẵng ngày nay. Nguyên trước đây đường sông này vốn nhỏ hẹp lại quanh co khuất khúc, lâu ngày bị đất cát bồi lấp, thuyền bè khó đi, năm Minh Mạng thứ 5, 1824, thể theo ý nguyện của nhân dân trong địa hạt, nhà vua sai cai bạ Lê Đại Cương, dựa vào con lạch cũ mà đào và nới rộng ra từ làng Câu Nhi đến làng Cẩm Sa dài thêm hơn 850 trượng, cho tên gọi là sông Vĩnh Điện. Cầu bắc qua sông ấy cũng gọi là cầu Vĩnh Điện. Buổi ấy đào xong, nhưng thế sông còn nông hẹp chỉ có thể đi lại bằng thuyền nhỏ được; đến năm Minh Mạng thứ 6, nhà vua lại sai thống chế Trương Văn Minh chỉnh lý đường sông lúc trước, rồi đào dời xuống hơn 40 trượng nữa, mở riêng một cửa sông để tiếp nước sông cái, chăng dây nắn lại dòng cho thẳng, lấy dân phu trong hạt hơn 8000 người tích cực đào. Nhớ buổi Trương Văn Minh nhận lệnh và từ biệt vua vào Quảng Nam đào sông, vua Minh Mạng dụ rằng: “Đây là việc trọng yếu về vận tải đường sông ở phía nam kinh kỳ, trước kia người thừa biện không biết làm cho nên nay bất đắc dĩ phải đào vét thêm, mong lợi cho dân, chẳng phải muốn nhọc sức dân đâu. Ngươi đến Quảng Nam nên triệu các phụ lão lấy ý ấy bảo cho họ biết, khiến họ báo lại cho con em vui vẻ đến làm”. Khi Thống chế Trương Văn Minh vào Quảng Nam, vua thấy gần tiết mưa lụt, liền sai lấy thêm 1000 dân phu để góp sức cố làm. Qua hai tháng thì xong. Vua sai đem bò rượu đến khao thưởng mọi người.

Từ khi con sông này được đào nới rộng ra, luồng lạch thông thoáng, đường thủy đi lại thuận tiện, tôm cá cũng có chỗ mà sản sinh nhiều thêm. Con sông đào này quả thực đã đem lại nhiều mối lợi cho giao thương, đồng ruộng và người xứ Quảng. Để giữ cho con nước ở đây thông hoạt, luồng lạch dễ đi, hàng năm quan lại địa phương thay phiên thị sát, thấy đoạn nào sạt lở, bồi lấp thì phải gấp rút cho người nạo vét ngay.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng sông Vĩnh Điện lên Dụ đỉnh.

Sông Vĩnh Điện ngày nay, có đoạn chảy qua thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và một đoạn qua huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

, theo Đại Nam nhất thống chí thì cây hoa này hay say trăng dựa gió, tiêu sái tinh thần chẳng hoa nào sánh kịp. Mùa xuân, vào tháng 2 tháng 3, trăm thứ hoa đã nở hết, mới thấy hoa lê trang sức sắc đẹp, lạnh lẽo mùi hương, tự cam quạnh quẽ một mình. Người rành hoa biết rằng: hoa lê có hai loại, cánh hoa tròn mà thư thái thì quả ắt ngọt, cánh hoa khuyết mà chau lại, thì quả ắt chua. Quả lê bổ mát, dùng nhiều da dẻ mịn hồng, lợi tiểu.

Ở Việt Nam, vùng Tây Bắc thuộc xứ lạnh trồng nhiều thứ hoa lê này, vì hợp thổ nhưỡng nên cho quả rất ngon.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho khắc hình tượng cây hoa lê vào Dụ đỉnh.

Tử Tô

Thông tin liên quan:

>> Những họa tiết khắc trên Cửu đỉnh - kỳ 37

Tử Tô, còn gọi là xích tô, hay tía tô, lá có mùi thơm, dùng ăn sống; có thể trị được tất cả các chất độc của cá trạnh. Lại có một loại gọi là bạch tô, lá hai mặt đều trắng, giống rau húng. Lá tử tô dùng xào tái ăn, hoặc nấu chín ăn đều được, nhưng người ta thường dùng ăn sống nhiều hơn; hạt tử tô nghiền lấy nước nấu cháo ăn cũng ngon. Các nhà Đông y cho biết, tía tô có dược tính điều hòa cơ thể để chữa ho, an thai, giải ngộ độc cua cá... Tía tô dễ trồng, gieo bằng hạt, giữ ẩm một thời gian thì nẩy mầm. Ở Việt Nam, đất tỉnh nào trồng cũng được, nhưng hương vị ngon và chứa nhiều dược tính là tía tô miền Bắc.

Năm Minh Mạng thứ 17, đúc xong Cửu đỉnh, cho chạm hình tượng cây tử tô vào Dụ đỉnh.

(Còn nữa)

Dương Phước Thu

ĐÁNH GIÁ
Hãy trở thành người đầu tiên đánh giá cho bài viết này!
  Nội dung góp ý

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Từ Huế nghĩ về Luật Phát triển công nghiệp văn hóa

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra lấy ý kiến trong bối cảnh văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm quốc gia. Nhìn từ Huế - vùng đất mà di sản đã trở thành căn cước đô thị, Festival đã thành thương hiệu và sáng tạo ngày càng gắn với du lịch, công nghệ, thiết kế - có thể thấy rõ điều một đạo luật mới cần làm: tạo cơ chế để những giá trị được tích tụ qua nhiều thế hệ tiếp tục sống trong đời sống đương đại, hình thành sản phẩm, tài sản trí tuệ và thị trường mà vẫn giữ được bản sắc riêng của văn hóa Huế.

Từ Huế nghĩ về Luật Phát triển công nghiệp văn hóa
Gần 300 học giả tham dự Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Theo kế hoạch, ngày 18/7, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”.

Gần 300 học giả tham dự Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Giữ nếp nhà, dựng xây quốc gia thịnh vượng

Ngày Gia đình Việt Nam 28/6 với chủ đề “Gia đình hạnh phúc - Quốc gia thịnh vượng” gợi mở một thông điệp sâu sắc: sự phồn vinh của đất nước không chỉ được tạo nên từ những công trình lớn, những chỉ số tăng trưởng hay những chiến lược phát triển dài hạn, mà còn bắt đầu từ từng mái nhà bình yên. Với Huế - vùng đất của di sản, gia phong, nền nếp và chiều sâu văn hóa - câu chuyện gia đình càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi trong mỗi gia đình Huế không chỉ có tình thân, mà còn có ký ức, lễ nghĩa, sự tinh tế và cốt cách văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Giữ nếp nhà, dựng xây quốc gia thịnh vượng

TIN MỚI

Return to top