- ThS. LS Nguyễn Văn Phước, Trưởng Văn phòng Luật sư Huế : Theo quy định hiện hành, chủ sở hữu công ty có quyền quyết định chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác (điểm h, điều 64 Luật DN 2005). Theo đó, chủ sở hữu công ty bạn có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho cá nhân nước ngoài đó. Tuy nhiên, liên quan đến vốn điều lệ của công ty, tại khoản 1, điều 76 Luật DN quy định: “Công ty TNHH một thành viên không được giảm vốn điều lệ”. Khi đã đăng ký vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh và số vốn này được ghi vào điều lệ của công ty thì chủ sở hữu công ty có trách nhiệm thực hiện cam kết góp vốn của mình theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trên, trường hợp chủ sở hữu chuyển nhượng theo số vốn thực góp (thấp hơn số vốn điều lệ đã đăng ký) thì được xem là chuyển nhượng một phần vốn điều lệ mà thôi chứ chưa phải là chuyển nhượng toàn bộ số vốn điều lệ. Tại khoản 1, điều 66 Luật DN quy định: “Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Trường hợp chuyển nhượng một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày chuyển nhượng…”

Như vậy, nếu muốn thực hiện việc chuyển nhượng vốn theo đúng mục đích là “bán đứt” công ty, thì chủ sở hữu công ty bạn không thể chuyển nhượng theo giá trị số vốn đã góp thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký mà phải chuyển nhượng theo tổng giá trị vốn điều lệ đã đăng ký và người mua chấp nhận nhận chuyển nhượng toàn bộ số vốn đó (vốn điều lệ đã đăng ký và đã ghi vào điều lệ công ty) cùng với cam kết chủ sở hữu mới sẽ góp đủ số vốn điều lệ đã đăng ký. 

 

      Bùi Vĩnh (ghi)