Ảnh: Bảo tàng Lịch sử TP. Huế

Một “Tiếng Dân” bền bỉ

Với Huế, tưởng nhớ cụ Huỳnh còn mang ý nghĩa gần gũi. Chính trên đất Cố đô, cụ đã trải qua một trong những chặng đường hoạt động lâu dài và đặc sắc nhất: làm báo. Từ Huế, qua Tiếng Dân, tiếng nói của một chí sĩ vượt khỏi khuôn khổ một tờ báo để trở thành tiếng nói về dân quyền, dân sinh, lòng yêu nước và trách nhiệm của trí thức trước vận mệnh quốc gia. Huế chính là không gian góp phần làm nên một di sản báo chí yêu nước.

Sinh năm 1876 tại Tiên Phước, Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng trưởng thành khi đất nước đầy biến động. Đỗ tiến sĩ năm 1904 nhưng không chọn đường quan trường, cụ cùng Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp trở thành những gương mặt tiêu biểu của phong trào Duy Tân, cổ vũ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Sau phong trào chống thuế Trung Kỳ năm 1908, cụ bị bắt, đày ra Côn Đảo 13 năm. Trở về năm 1921, cụ tiếp tục dấn thân. Năm 1926 được bầu vào Viện Dân biểu Trung Kỳ, rồi giữ chức Viện trưởng, dùng nghị trường để lên tiếng về dân chủ, sưu thuế, dân sinh, giáo dục.

Ngày 10/8/1927, số đầu tiên của Tiếng Dân ra đời tại Huế, Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút. Trong gần 16 năm, đến khi bị đình bản năm 1943, báo xuất bản 1.766 số. Huế khi ấy vừa là kinh đô Triều Nguyễn, vừa là trung tâm bộ máy cai trị của thực dân ở Trung Kỳ. Báo chí bấy giờ chịu kiểm duyệt khắt khe, mỗi số Tiếng Dân phải nộp cả bản Quốc ngữ và bản dịch tiếng Pháp để kiểm duyệt trước khi xuất bản. Giữa những ràng buộc ấy, “Tiếng Dân” vẫn bền bỉ vang lên.

Tiếng Dân phản ánh thuế khóa, đời sống dân nghèo, chế độ tù đày, bất công xã hội; cổ vũ dân quyền, dân sinh, giáo dục và tinh thần tự cường. Tháng 7/1938, khi vấn đề Hoàng Sa trở nên thời sự, Huỳnh Thúc Kháng, dưới bút danh Sử Bình Tử, dựa vào sử liệu, trong đó có Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, đã khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa. Tầm vóc của Tiếng Dân không chỉ ở 1.766 số báo, mà ở biên độ trách nhiệm: từ cơm áo của người dân đến chủ quyền quốc gia.

Quan niệm làm báo của Huỳnh Thúc Kháng vẫn mang tính thời sự. Trong hoàn cảnh báo chí bị kiểm duyệt, cụ xác lập một nguyên tắc: nếu không được nói tất cả điều mình muốn nói thì ít nhất phải giữ quyền không nói những điều người khác ép mình nói. Đó là tuyên ngôn về khí tiết, đồng thời nhắc người làm báo hôm nay về sự trung thực, bản lĩnh và trách nhiệm xã hội. Công nghệ, phương thức truyền thông, tốc độ thông tin có thể đổi thay, nhưng giá trị cốt lõi của báo chí vẫn là sự thật, lợi ích công chúng và lòng tin.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Huỳnh Thúc Kháng bước sang chặng đường mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, cụ được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước, tham gia điều hành chính quyền cách mạng non trẻ. Cuối năm 1946, khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tuổi cao, sức yếu, cụ vẫn đi kinh lý miền Trung, động viên đồng bào kháng chiến. Cụ qua đời tại Quảng Ngãi năm 1947 và được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng.

Những chuẩn mực ý nghĩa

Nhìn lại cuộc đời ấy, có thể nhận ra một mạch nguồn xuyên suốt: lấy dân làm gốc. Duy Tân cũng vì dân; nghị trường để nói tiếng nói của dân; làm báo để bảo vệ quyền lợi của dân; tham gia Chính phủ cũng để phụng sự nhân dân và đất nước. Phương thức thay đổi theo thời cuộc, nhưng mục tiêu không đổi. Chính sự nhất quán đó làm nên sức nặng của một nhân cách.

Tưởng nhớ cụ Huỳnh hôm nay chúng ta không chỉ dừng ở nghi thức kỷ niệm, mà quan trọng hơn là làm cho di sản tinh thần ấy tiếp tục hiện diện: trách nhiệm của trí thức, sự liêm chính của người cán bộ, bản lĩnh của người làm báo, tinh thần đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và thái độ gần dân, trọng dân. Trong xã hội chuyển đổi nhanh, khi thông tin ngày càng nhiều nhưng niềm tin càng cần được bồi đắp, những chuẩn mực ấy càng có ý nghĩa.

Với Huế, trách nhiệm lớn hơn: gìn giữ, phát huy những dấu tích gắn với Tiếng Dân, nghiên cứu vai trò của Huế trong hành trình báo chí của Huỳnh Thúc Kháng, để các địa chỉ ấy trở thành phần ký ức đô thị. Trụ sở Báo Tiếng Dân cần trở thành nơi kể câu chuyện về báo chí yêu nước, trách nhiệm trí thức, ý thức công dân và tinh thần dân tộc. Một thành phố di sản không chỉ bảo tồn cung điện, đền đài, lăng tẩm; di sản còn là ký ức về những con người từng sống, đấu tranh, viết và để lại dấu ấn tinh thần.

Gần một thế kỷ trước, giữa kinh đô Huế, Huỳnh Thúc Kháng đã chọn cho tờ báo của mình một cái tên giản dị mà hàm chứa cả một quan niệm lớn: Tiếng Dân. Hôm nay, tưởng nhớ cụ, bài học sâu sắc vẫn nằm trong hai chữ ấy. Một nền báo chí có trách nhiệm phải biết lắng nghe tiếng dân; một bộ máy công quyền vì dân phải biết trọng tiếng dân; và sức mạnh bền vững của quốc gia phải được xây đắp từ nhân dân.

Từ Tiếng Dân năm 1927 trên đất Huế đến tiếng nói của một dân tộc độc lập hôm nay là gần một thế kỷ. Thời đại đổi thay, nhưng khí tiết, lòng yêu nước, tinh thần phụng sự và trách nhiệm của Huỳnh Thúc Kháng vẫn còn sức gợi mở. Đó là cách một con người vượt qua giới hạn thời đại mình để trở thành giá trị bền lâu của dân tộc.

HƯƠNG BÌNH