Ông Tôn Thất Hoàng (thứ 2, trái sang) về Huế giao lưu, tọa đàm dịp kỷ niệm 60 năm Trường TNTT, bên trái ông là ông Đặng Văn Việt, người từng khiến giặc Pháp phải kính sợ tôn xưng là "Hùm xám đường số 4". Ông Việt cũng là một học viên của Trường TNTT.

Người trao cho tôi tập tài liệu là bác sĩ Hoàng Minh Cảnh. Ông là thương binh nặng, nguyên là liên lạc viên của Xứ ủy Trung Kỳ từ năm 1941 khi mới 12 tuổi… Sau hòa bình, ông dành tâm sức để tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính, công trạng của liệt sĩ.

Tôi có duyên quen biết ông khi ông đang dụng công vào Nam, ra Bắc gặp các nhân chứng, sưu tập chứng cứ làm hồ sơ công nhận đối với liệt sĩ Ngô Đào Du. Và Báo Thừa Thiên Huế (Huế ngày nay bây giờ) được ông tìm đến như một kênh quan trọng để giúp lan tỏa thông tin ra công luận.

Rồi chuyện cũng đến hồi kết có hậu. Liệt sĩ Ngô Đào Du, sinh năm 1923, nguyên Đại đội trưởng Đại đội 114, Tiểu đoàn 319 thuộc lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên Huế, hy sinh anh dũng vào tháng 10 năm 1948 đã được công nhận. Từ đó, ông Cảnh hay đến tòa soạn gặp và trò chuyện cùng tôi.

Trong một dịp kỷ niệm ngày truyền thống Trường Thanh niên tiền tuyến (TNTT), ông đã đưa cho tôi tập tài liệu trên để biết thêm về ngôi trường đặc biệt này. Tập tài liệu đơn sơ giản dị nhưng rất quý, vì nó được viết ra bởi những người từng là học viên của Trường TNTT, những người trực tiếp đi qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc; trong đó có những câu chuyện, những chi tiết mà tôi nghĩ, có thể rất nhiều người chưa nghe, chưa biết.

 Khu đất bên ngoài cửa Quảng Đức, nơi tọa lạc của Trường Thanh niên tiền tuyến trước đây.

Trở lại với tập “Lên Đường”, chủ biên (xin tạm gọi như vậy) là Tôn Thất Hoàng (Nguyễn Phước Hoàng). Ông là con của cụ Thượng Tôn Thất Quảng - Phủ doãn Thừa Thiên, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Cơ mật viện Đại thần thời Bảo Đại. Được giáo dục theo truyền thống Nho phong, thấm nhuần đạo đức Khổng Mạnh, nhưng Tôn Thất Hoàng đã dũng cảm vượt lên mọi thứ lễ giáo, rời bỏ biệt phủ thượng thư của phụ thân, nơi ông được bảo đảm một cuộc sống ấm êm, đủ đầy để đi theo tiếng gọi của non sông. “Lên Đường” được ông nhớ lại và ghi chép nhân ngày giỗ đầu của Giáo sư Tạ Quang Bửu (21/8/1987) - người thầy mà ông vô cùng quý mến. Qua thầy Tạ Quang Bửu, ông đã sôi nổi tham gia phong trào Hướng đạo, gia nhập Trường TNTT rồi trở thành chiến sĩ giải phóng quân như một lẽ tự nhiên.

Sự ra đời của Trường TNTT được xem là một hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử quân sự và cách mạng Việt Nam. Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Trong nội các, một số trí thức yêu nước như Luật sư Phan Anh (Bộ trưởng Bộ Thanh niên) và GS Tạ Quang Bửu (Đặc vụ Ủy viên) đã nhận ra thời cơ lịch sử cận kề. Với mục tiêu tập hợp và đào tạo một đội ngũ chỉ huy quân sự cốt cán cho đất nước mà không để phát xít Nhật lợi dụng hay nghi ngờ, hai ông đã “tương kế tựu kế” đề xuất lập trường.

Trường khai giảng ngày 2/7/1945 tại địa điểm là một trại lính cũ của triều đình bên ngoài cửa Quảng Đức, ông Phan Tử Lăng được chọn làm Hiệu trưởng. Nhờ uy tín lớn của những người sáng lập, ngôi trường ngay lập tức thu hút 43 thanh niên, sinh viên trí thức nhiệt huyết đầu quân. Tuy mang danh nghĩa của chính quyền Trần Trọng Kim, nhưng thực chất trường đã được “Việt Minh hóa” ngay từ những ngày đầu tiên.

Cách mạng tháng Tám nổ ra tại Huế, các học viên Trường TNTT lập tức trở thành lực lượng nòng cốt. Họ là lực lượng đã hạ lá cờ quẻ ly của triều đình phong kiến và kéo lá cờ đỏ sao vàng lên đỉnh Kỳ Đài Huế; đảm nhiệm nhiệm vụ giữ gìn trật tự cho các cuộc mít tinh, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lễ thoái vị của vua Bảo Đại vào ngày 30/8/1945.

Theo trí nhớ của ông Tôn Thất Hoàng, tại cuộc mít tinh biểu dương lực lượng tổ chức tại sân vận động Huế, đại diện chính quyền cách mạng Trung bộ và Thừa Thiên Huế tuyên bố công nhận các sinh viên Trường TNTT tốt nghiệp và chuyển thành cán bộ của lực lượng vũ trang cách mạng Thừa Thiên Huế.

Trong hồi ức của mình, ông Hoàng còn kể một chi tiết rất thú vị về tiêu chuẩn chọn người của Trường TNTT. Lúc bấy giờ, nhiều người cho rằng học viên của TNTT phải tuyển những người to con kiểu “ngự lâm pháo thủ”, văn hóa phải trình độ “tú tài”, thế mới ngang cơ với sĩ quan Đồng Minh sắp đổ bộ. Nhưng quan điểm của GS Tạ Quang Bửu lại khác, ông cho rằng, học viên chỉ cần đủ trình độ để tiếp nhận một cách thông minh trong thời gian ngắn nhất các kiến thức quân sự tối thiểu, sau này dựa vào vốn đó mà phát huy tài năng. Không nhất thiết phải tú tài mà học sinh dưới vài lớp cũng có thể nhận được. “Thiếu gì anh tú tài Tây mà vẫn kém thành chung ta” (Thành chung tương đương với tốt nghiệp cấp 2 - Trung học cơ sở bây giờ).

 Tòa dinh thự trước kia của cụ Thượng Tôn Thất Quảng ở 148 Bùi Thị Xuân.

Về tầm vóc, GS Tạ Quang Bửu nhận định: “Dân mình lâu nay ăn uống kham khổ, lấy đâu ra toàn học viên to cao được. Học chỉ huy quân sự ăn thua cái đầu và cái gan, cần gì to xác!”

Và từ những thành viên có “cái đầu và cái gan đó”, từ Trường TNTT đất nước đã có 2 vị Bộ trưởng Quốc phòng (Phan Anh, Tạ Quang Bửu), 8 vị tướng lĩnh (Trung tướng Cao Văn Khánh, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thiếu tướng Đào Hữu Liêu, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kinh tế; Thiếu tướng Đoàn Huyên, nguyên Tư lệnh Bộ đội tên lửa phòng không, Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân; Thiếu tướng Mai Xuân Tần, từng giữ các chức vụ chỉ huy trong các đại đoàn chủ lực; Thiếu tướng Võ Quang Hồ, nguyên Cục phó Cục Tác chiến (Bộ Tổng Tham mưu); Thiếu tướng Phan Hàm, nguyên cán bộ chủ chốt Bộ Tổng tham mưu; Thiếu tướng Nguyễn Thế Lâm, từng giữ quyền Tư lệnh Quân khu V; Thiếu tướng Cao Pha (Nguyễn Thế Lương), nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công, cùng nhiều cán bộ quân đội cao cấp; nhiều nhà giáo, nhà khoa học có đóng góp lớn cho đất nước.

Riêng Tôn Thất Hoàng, sau khi cùng Giải phóng quân Thuận Hóa Nam tiến, tháng 4/1946, ông được Bộ Quốc phòng điều ra làm huấn luyện viên tại Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, sau đó ở lại kháng chiến tại Việt Bắc. Tại Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông làm Quyền Tham mưu trưởng Trung đoàn pháo 105mm cơ giới đầu tiên của QĐNDVN. Năm 1959, ông chuyển về công tác tại Đại học Bách khoa Hà Nội và nghỉ hưu với hàm Phó Giáo sư vào năm 1987.

Sau này, đọc hồi ký “Gánh gánh… Gồng gồng” của nhà văn Xuân Phượng gửi tặng, tôi thật bất ngờ khi biết rằng, ông Tôn Thất Hoàng là phu quân của bà. Hai vợ chồng lấy nhau và sinh đứa con đầu lòng tại chiến khu Việt Bắc. Trong đêm vợ chuyển dạ sắp sinh, ông thắp đuốc vượt rừng, đưa vợ lên được một con đò nhỏ ở sông Lô, nuốt nước mắt động viên vợ rồi phải vội vã quay về để còn kịp công tác. Cậu ấm con quan với nề nếp Nho phong, nay gặp Cụ Hồ với tinh thần cách mạng “Lấy dân làm gốc”, “Dĩ công vi thượng”, cậu ấm ấy đã tiếp nhận và thực hiện một cách hồn nhiên, chân thành nhất. Đất nước có tự do, độc lập và vị thế như hôm nay, không thể quên công lao của một thế hệ những nhà cách mạng tiền bối như thế…

Diên Thống