Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến điều hành phiên họp. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp 

Tại phiên thảo luận, nhiều đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đề nghị việc phân bổ nguồn lực, phân cấp và tổ chức thực hiện chương trình phải căn cứ vào mức độ sẵn sàng, năng lực thực thi của từng cấp, từng địa phương. Phân cấp chỉ phát huy hiệu quả khi quyền hạn, trách nhiệm được giao tương xứng với năng lực và các điều kiện bảo đảm thực hiện.

Đánh giá bằng kết quả thực chất

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng) bày tỏ đồng tình với định hướng chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình, thủ tục sang quản lý theo kết quả. Dự thảo Nghị quyết đã xây dựng khung đánh giá, xếp loại kết quả và tổ chức đánh giá theo năm, giữa kỳ, cuối kỳ.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần phân biệt rõ giữa “sản phẩm đầu ra” và “kết quả cuối cùng”. Việc xây dựng một trường học, nâng cấp trạm y tế, đầu tư thiết chế văn hóa hay hỗ trợ một mô hình sinh kế là những sản phẩm cần thiết, nhưng hoàn thành sản phẩm chưa đồng nghĩa với hoàn thành mục tiêu phát triển.

Theo đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, một trường học được xây dựng nhưng chất lượng học tập không được cải thiện thì mục tiêu giáo dục chưa thể coi là hoàn thành. Tương tự, trạm y tế được đầu tư đầy đủ nhưng người dân vẫn khó tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu thì mục tiêu y tế chưa đạt; hộ nghèo được hỗ trợ sinh kế nhưng sau khi kết thúc hỗ trợ lại tái nghèo thì chưa thể coi là giảm nghèo bền vững. Thiết chế văn hóa được xây dựng nhưng ít người sử dụng cũng cần được đánh giá về hiệu quả xã hội của khoản đầu tư.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu để theo dõi mức độ tiếp cận, thụ hưởng và những thay đổi thực tế về thu nhập, việc làm, giáo dục, y tế, văn hóa và chất lượng cuộc sống đã được đặt ra trong hồ sơ của Chính phủ. Nội dung này cần được cụ thể hóa thành phương pháp đánh giá xuyên suốt chương trình.

“Cuối cùng, mục tiêu của Chương trình không phải là hoàn thành bao nhiêu dự án, mà là những dự án ấy làm thay đổi cuộc sống người dân như thế nào”, đại biểu nhấn mạnh.

Nguồn lực lớn, cần rõ trách nhiệm

Tham gia thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế, cho rằng đây là chương trình có ý nghĩa quan trọng, được người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo, nhất là những địa bàn khó khăn, kỳ vọng lớn.

Với tổng nguồn lực dự kiến gần 898,5 nghìn tỷ đồng, đại biểu đề nghị dự thảo Nghị quyết vừa bảo đảm sự chủ động trong điều hành của Chính phủ, vừa xác lập những giới hạn cần thiết để Quốc hội và nhân dân có cơ sở theo dõi, giám sát.

Qua nghiên cứu các phụ lục, đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho biết tổng nguồn lực cần huy động giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 898.528 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương khoảng 345 nghìn tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 395.392 tỷ đồng, cùng khoảng 23 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước thực hiện tín dụng chính sách và các nguồn lực khác.

Theo đại biểu, đây là nguồn lực rất lớn, thể hiện quyết tâm chính trị cao. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ đâu là phần Quốc hội quyết định về khung chương trình và giới hạn nguồn lực ngân sách nhà nước, đâu là tổng nhu cầu huy động của toàn chương trình.

Cách thể hiện này sẽ tránh cách hiểu rằng Quốc hội đã quyết định trước từng cơ cấu nguồn vốn trong suốt 5 năm, trong khi quá trình điều hành cần có độ linh hoạt nhất định của Chính phủ và các bộ, ngành.

Đại biểu đề nghị Chính phủ được chủ động điều hành, điều chỉnh cơ cấu nguồn lực trong phạm vi Quốc hội quy định. Song, những thay đổi làm tăng tổng mức ngân sách Trung ương, thay đổi mục tiêu, đối tượng thụ hưởng hoặc các chính sách cốt lõi cần có cơ chế báo cáo, xin ý kiến Quốc hội. Qua đó, vừa phát huy tính chủ động của cơ quan hành chính, vừa giữ vững kỷ luật trong quyết định ngân sách.

 Đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế tham gia ý kiến. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp

Đồng thời, cần làm rõ cách hạch toán khoản 23 nghìn tỷ đồng vốn tín dụng chính sách, tránh tính trùng hoặc nhầm lẫn giữa tổng nguồn lực và các cấu phần của chương trình trong quá trình triển khai.

Về cơ chế đầu mối và trách nhiệm, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đồng tình với tinh thần “một mục tiêu, một đầu mối, một trách nhiệm”. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự hiệu quả, trách nhiệm phải gắn với đầu ra cụ thể. Theo đó, bộ, ngành phụ trách chính sách phải chịu trách nhiệm về tiêu chí, dữ liệu và kết quả thực hiện chính sách; cơ quan điều phối chung chịu trách nhiệm bảo đảm tính thống nhất, tránh chồng chéo và theo dõi tiến độ của toàn chương trình.

Giải trình ý kiến của các ĐBQH, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, đa số đại biểu thống nhất cao với chủ trương tích hợp bốn chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình. Theo Bộ trưởng, đây là bước đột phá trong xây dựng pháp luật, phù hợp với mong muốn của các địa phương.

Việc tích hợp không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng hay mức độ ưu đãi của các chính sách. Điểm thay đổi chủ yếu là phương thức tổ chức thực hiện, nhằm sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực của Nhà nước và xã hội, phù hợp với tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW và Kết luận 18-KL/TW.

Theo đó, chương trình sẽ chuyển từ phương thức quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.

Trong phiên họp buổi sáng, Quốc hội cũng nghe trình các dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi); nghe báo cáo thẩm tra các dự án luật. Buổi chiều, Quốc hội thảo luận tại tổ về 3 dự án luật này.
Lê Thọ