Tiến độ khai thông tiềm năng “đất vàng’’ trên tuyến đường Lê Lợi đang rất chậm, gây lãng phí nguồn lực. Ảnh: ĐQ  

Vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay có lẽ không còn đơn thuần là Huế có bao nhiêu nguồn lực, mà là khả năng hấp thụ, chuyển hóa nguồn lực ấy thành tăng trưởng nhanh đến đâu và hiệu quả như thế nào. Đây cũng chính là bài toán cần được giải quyết quyết liệt trong những tháng còn lại của năm.

Những con số biết nói

Theo số liệu công khai của UBND thành phố, đến ngày 7/8, tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố Huế đạt khoảng 10.143 tỷ đồng trên dự toán 16.000 tỷ đồng, tương đương 63,4%; tăng khá rõ so với mức 61,2% của tuần trước. Riêng từ 31/7 đến 7/8, ngân sách thu thêm khoảng 347 tỷ đồng.

Đáng chú ý, bình quân các xã, phường đã hoàn thành 74,5% dự toán thu, so với 70,3% tuần trước. Nhiều địa phương có tỷ lệ thực hiện rất cao, thậm chí vượt nhiều lần dự toán như A Lưới 3, A Lưới 1, A Lưới 4, Khe Tre, Thuận An...

Tất nhiên, không nên chỉ nhìn tỷ lệ phần trăm để đánh giá sức khỏe kinh tế của từng địa bàn, bởi những nơi có dự toán nhỏ có thể đạt tỷ lệ rất cao khi phát sinh một vài khoản thu lớn. Điều cần quan tâm hơn là quy mô tuyệt đối, cơ cấu và tính bền vững của nguồn thu. Dẫu vậy, mức thực hiện 63,4% dự toán toàn thành phố sau hơn bảy tháng vẫn là một tín hiệu tích cực.

Nhưng nếu đặt con số ấy bên cạnh tiến độ đầu tư công, một khoảng cách đáng suy nghĩ xuất hiện.

Đến ngày 7/8, tỷ lệ giải ngân của Huế theo kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao mới đạt 35,6%, dù đã tăng từ 34,1% một tuần trước. Mức này thấp hơn bình quân cả nước là 41,9%. Nếu tính toàn bộ các nguồn vốn, tỷ lệ giải ngân của thành phố chỉ đạt 28,9%.

Đáng lưu ý hơn, điểm nghẽn lại tập trung ở một số chủ đầu tư đang nắm giữ lượng vốn rất lớn. Ban Quản lý dự án (QLDA) đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố có kế hoạch vốn gần 2.250 tỷ đồng nhưng mới giải ngân 18,2%; Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đạt 23,6%; Ban QLDA và Phát triển đô thị đạt 37,2%; Ban QLDA khu vực 2 đạt 38,3%.

Điều đó cho thấy, trong điều hành đầu tư công, không thể chỉ nhìn số lượng đơn vị có tỷ lệ giải ngân cao. Một đơn vị được giao vài tỷ đồng hoàn thành 100% kế hoạch là rất đáng ghi nhận, nhưng không thể bù cho một chủ đầu tư đang nắm vài nghìn tỷ đồng mà mới giải ngân chưa tới 20%.

Muốn tạo chuyển biến thực chất, phải đánh trúng những dự án và chủ đầu tư đang nắm khối lượng vốn lớn.

Khi tài sản chưa trở thành nguồn lực

Bảng công khai xử lý tài sản công đến ngày 7/8 bổ sung thêm một góc nhìn đáng chú ý. Bình quân toàn thành phố mới xử lý được 34,5% số cơ sở nhà, đất thuộc diện phải xử lý, dù đã tăng từ 29,9% tuần trước.

Sự phân hóa giữa các địa phương rất lớn. Có những địa phương đã hoàn thành 100%, trong khi một số nơi tiến độ còn rất thấp: Hương Thủy, Nam Đông 25%; Phong Thái 23,8%; Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố 22%; Chân Mây - Lăng Cô và Phú Vang 19%; Phú Xuân, Long Quảng 18,2%; Khe Tre 16,2%; Thủy Xuân 11,1%; thậm chí Kim Trà và Hưng Lộc chưa xử lý xong trường hợp nào.

Tòa nhà 26 Lê Lợi, một công trình kiến trúc Pháp rất đẹp đang trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Ảnh: M.Phan

Đáng chú ý là những nơi vừa có khối lượng lớn vừa có tỷ lệ xử lý thấp. Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố có 41 cơ sở cần xử lý nhưng mới hoàn thành 9; Phú Vang có 42 cơ sở, mới hoàn thành 8; Khe Tre có 37 cơ sở, mới hoàn thành 6…

Đằng sau những con số ấy là một câu chuyện lớn hơn về hiệu quả phân bổ nguồn lực sau sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính.

Mỗi trụ sở, khu đất không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa được xử lý không chỉ là một tài sản nằm im. Nó còn có thể phát sinh chi phí quản lý, nguy cơ xuống cấp, lãng phí; quan trọng hơn, đó là một nguồn lực chưa được đưa vào phục vụ những nhu cầu phát triển mới.

Bởi vậy, rõ ràng là xử lý tài sản công không chỉ là một công việc hành chính sau sắp xếp. Đây phải được coi là một nhiệm vụ kinh tế và quản trị phát triển.

“Điểm nghẽn của các điểm nghẽn”

Đặt ba con số cạnh nhau sẽ thấy một vấn đề rất đáng suy ngẫm: Thu ngân sách: 63,4%; giải ngân đầu tư công: 35,6%; xử lý tài sản công: 34,5%.

Ba con số không hoàn toàn cùng một mẫu số nên không thể so sánh cơ học. Nhưng về phương diện điều hành, chúng lại phát đi một tín hiệu khá nhất quán: Khả năng huy động nguồn lực đang đi nhanh hơn khả năng đưa nguồn lực vào vận hành.

Đây có thể xem là một dạng “điểm nghẽn hấp thụ nguồn lực”.

Huế không phải không có vốn; vốn đầu tư công đã được bố trí. Huế không phải không có tài sản; bởi sau sắp xếp, một lượng đáng kể nhà, đất công đang chờ được bố trí, chuyển đổi công năng hoặc khai thác phù hợp. Huế cũng không phải không tạo được nguồn thu. Kết quả ngân sách sau hơn bảy tháng đang chứng minh điều đó.

Nhưng vốn chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được biến thành công trình; đất đai chỉ thực sự là nguồn lực khi được sử dụng hiệu quả; tài sản công chỉ có giá trị phát triển khi được bố trí đúng nhu cầu hoặc khai thác hợp lý.

Khoảng cách từ “nguồn lực đang có” đến “nguồn lực đang vận động” vì vậy chính là khoảng cách cần rút ngắn nhất hiện nay.

Từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả

Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận quyết liệt hơn trong những tháng cuối năm.

Trước hết, đối với đầu tư công, cần chuyển mạnh từ theo dõi tỷ lệ giải ngân bình quân sang quản trị từng dự án lớn. Mỗi dự án chậm phải được xác định rõ đang mắc ở đâu: Giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, hồ sơ đất đai, điều chỉnh dự án, năng lực nhà thầu hay trách nhiệm chủ đầu tư.

Điểm nghẽn nào cũng phải có địa chỉ trách nhiệm, người xử lý và thời hạn xử lý.

Đặc biệt, cần tập trung vào nhóm dự án có quy mô vốn hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng. Chỉ cần các dự án lớn tăng thêm 10-15 điểm phần trăm giải ngân, hiệu ứng đối với tỷ lệ chung và đối với nền kinh tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với việc thúc hàng chục dự án nhỏ.

Đối với tài sản công, cần nhanh chóng hoàn thiện một “bản đồ tài sản công sau sắp xếp”: Tài sản nào tiếp tục sử dụng; tài sản nào chuyển cho giáo dục, y tế, văn hóa, thiết chế cộng đồng; tài sản nào có thể khai thác, cho thuê; tài sản nào cần xử lý theo quy định để tạo nguồn lực mới.

Quan trọng hơn, sự chênh lệch rất lớn giữa các xã, phường trong cả giải ngân và xử lý tài sản công cho thấy cần quan tâm đến năng lực thực thi ở cấp cơ sở. Phân cấp mạnh là cần thiết, nhưng nếu quyền hạn được chuyển xuống nhanh hơn năng lực cán bộ, quy trình và công cụ quản trị thì chính cấp cơ sở có thể trở thành một điểm nghẽn mới.

Biến nguồn lực thành động lực

Năm tháng còn lại của năm 2026 vì vậy không chỉ là chặng nước rút để hoàn thành các chỉ tiêu. Đây còn là thời gian kiểm nghiệm năng lực quản trị phát triển của thành phố sau những thay đổi lớn về tổ chức và không gian phát triển.

Huế cần tạo ra ba dòng chảy đồng thời: Dòng vốn đầu tư công, dòng tài sản - đất đai và dòng đầu tư xã hội. Đầu tư công đi nhanh sẽ tạo hạ tầng và kích thích nhu cầu; đất đai, tài sản được khơi thông sẽ mở không gian phát triển; hạ tầng và mặt bằng tốt hơn lại tạo điều kiện thu hút đầu tư tư nhân. Khi ba dòng chảy ấy gặp nhau, nguồn lực mới có thể tạo ra hiệu ứng cộng hưởng.

Vì thế, vấn đề cốt lõi của Huế trong chặng đường còn lại của năm 2026 không chỉ là thu thêm được bao nhiêu, bố trí thêm bao nhiêu vốn, mà quan trọng hơn là làm cho mỗi đồng vốn, mỗi dự án, mỗi khu đất và mỗi tài sản công vận động nhanh hơn, hiệu quả hơn và tạo ra giá trị lớn hơn.

Nguồn lực nằm yên chỉ là tiềm năng; nguồn lực được khơi thông mới trở thành động lực phát triển.

Và có lẽ, khả năng biến “nguồn lực đang có” thành “nguồn lực đang chạy” chính là một trong những chìa khóa quan trọng nhất để Huế tạo được gia tốc tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026 và xây dựng nền tảng vững chắc hơn cho những năm tiếp theo.

Minh Phan