Đại biểu Nguyễn Hải Nam phát biểu thảo luận ở hội trường. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp 

Không đánh đổi an toàn hệ thống ngân hàng

Đại biểu Nguyễn Hải Nam (Đoàn ĐBQH TP. Huế) bày tỏ cơ bản thống nhất với việc sửa đổi đồng thời 3 luật trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng và phòng, chống rửa tiền, cho rằng đây là nỗ lực lớn của Ngân hàng Nhà nước nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Tuy nhiên, đại biểu đặc biệt lưu ý quy định tại Điều 59 của Luật Ngân hàng Nhà nước liên quan đến việc áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác đối với các tổ chức tín dụng. Theo đại biểu Nguyễn Hải Nam, cần làm rõ cách hiểu của quy định này.

“Nếu khác theo hướng an toàn hơn thì không có vấn đề. Nhưng nếu khác theo hướng ít an toàn hơn, tức chấp nhận mức độ rủi ro cao hơn, thì sẽ tiềm ẩn nguy cơ hạ chuẩn an toàn, áp dụng thiếu thống nhất, bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh, ảnh hưởng đến an toàn của cả hệ thống ngân hàng”, đại biểu Nguyễn Hải Nam phân tích.

Đại biểu Nguyễn Hải Nam nhắc lại những bài học từ quá trình tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém trước đây, trong đó có trường hợp SCB năm 2022, cho thấy việc xử lý rủi ro ngân hàng có thể gây hệ lụy lớn và tiêu tốn nhiều nguồn lực quốc gia.

Từ đó, đại biểu Nguyễn Hải Nam đề nghị bổ sung các nguyên tắc kiểm soát rủi ro, quy định rõ thẩm quyền quyết định, đối tượng, phạm vi, điều kiện, thời hạn áp dụng cũng như trình tự công khai, báo cáo, kiểm tra và giám sát để bảo đảm an toàn hệ thống.

Đối với Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Nguyễn Hải Nam đồng tình với việc bổ sung quy định về đại lý quản lý tài sản bảo đảm cho trái phiếu doanh nghiệp. Theo đại biểu Nguyễn Hải Nam, đây là giải pháp cần thiết để phát triển thị trường vốn, giảm áp lực cho hệ thống tín dụng ngân hàng và tạo thêm kênh huy động vốn cho nền kinh tế.

Về Luật Phòng, chống rửa tiền, đại biểu Nguyễn Hải Nam đánh giá việc sửa đổi là kịp thời, phù hợp với yêu cầu hội nhập và đáp ứng các chuẩn mực quốc tế, nhất là trong bối cảnh thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Hải Nam cho rằng việc thực thi luật sẽ phát sinh khối lượng dữ liệu rất lớn và kéo theo chi phí tuân thủ đáng kể đối với các ngân hàng thương mại. Vì vậy, cần hài hòa giữa yêu cầu quản lý và chi phí thực hiện, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu để phát hiện chính xác các giao dịch đáng ngờ thay vì chỉ tăng số lượng báo cáo.

Một vấn đề khác được đại đại biểu Nguyễn Hải Nam nhấn mạnh là bảo vệ dữ liệu cá nhân và an toàn thông tin. Theo đại biểu Nguyễn Hải Nam, hệ thống phòng, chống rửa tiền chỉ hiệu quả khi đi kèm cơ chế bảo mật dữ liệu đủ mạnh, bảo đảm quyền riêng tư và an toàn thông tin của khách hàng.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu tham gia thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Ảnh: Đoàn ĐBQH thành phố cung cấp

Luật Xuất bản phải hướng tới 10-15 năm tới

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu, Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách TP. Huế, đánh giá cao nỗ lực tiếp thu, giải trình và cập nhật nhiều nội dung mới của Ban soạn thảo, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.

Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, lần sửa đổi này không nên chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc trước mắt mà cần thiết kế các nguyên tắc đủ bền vững cho giai đoạn phát triển 10-15 năm tới, bảo đảm khả năng thích ứng với sự thay đổi rất nhanh của công nghệ và môi trường xuất bản.

Đối với việc sử dụng AI trong hoạt động xuất bản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng quy định yêu cầu gắn nhãn đối với nội dung được tạo lập toàn bộ hoặc một phần bằng AI là bước tiến tích cực về minh bạch, nhưng chưa đủ để xác lập trách nhiệm pháp lý.

Đại biểu Nguyễn Thị Sửu đề nghị khẳng định rõ việc sử dụng AI không làm thay đổi trách nhiệm của tổ chức, cá nhân quyết định xuất bản và phát hành; đồng thời việc sử dụng xuất bản phẩm, dữ liệu để huấn luyện AI phải tuân thủ pháp luật về quyền tác giả và quyền liên quan.

Về lưu chiểu điện tử, đại biểu Nguyễn Thị Sửu cho rằng nếu chỉ lưu tệp mà không quản lý định danh và phiên bản thì chưa thể quản lý toàn bộ vòng đời của xuất bản phẩm điện tử. Đại biểu đề xuất nguyên tắc “một xuất bản phẩm điện tử - một mã định danh - một lịch sử phiên bản”, trong đó mọi sửa đổi sau phát hành phải được cập nhật và lưu vết để phục vụ quản lý và truy xuất.

Liên quan đến điều kiện thành lập nhà xuất bản, đại biểu Nguyễn Thị Sửu đồng tình với việc mở rộng chủ thể được thành lập nhà xuất bản, trong đó có cơ sở giáo dục đại học công lập. Tuy nhiên, bà nhấn mạnh cần quản lý bằng năng lực thực tế thay vì chỉ dựa vào loại hình cơ quan chủ quản; các điều kiện phải phản ánh năng lực tài chính, nhân lực chuyên môn, biên tập, hạ tầng công nghệ và khả năng thực hiện trách nhiệm pháp lý.

Đối với chính sách hỗ trợ xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng khó khăn, trẻ em, người khiếm thị và các nhóm yếu thế, đại biểu đề nghị Nhà nước đầu tư có mục tiêu vào những giá trị mà thị trường khó tự bảo đảm, tránh bao cấp dàn trải. 

Về cơ chế hậu kiểm, đại biểu tán thành định hướng giảm tiền kiểm, tăng quyền tự chịu trách nhiệm của nhà xuất bản và tăng cường hậu kiểm. Tuy nhiên, để không tạo khoảng trống pháp lý, bà đề nghị bổ sung quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tạm dừng phát hành khi có dấu hiệu rõ ràng vi phạm các hành vi bị cấm, đồng thời quy định cụ thể trình tự và thời hạn áp dụng.

Theo đại biểu Nguyễn Thị Sửu, điểm cốt lõi của lần sửa đổi này là chuyển từ tư duy quản lý từng cuốn sách sang quản trị toàn bộ vòng đời của nội dung xuất bản.

“Trong thời đại AI, pháp luật phải trả lời được ba câu hỏi: nội dung được tạo lập và thay đổi như thế nào, ai chịu trách nhiệm và khi có vấn đề thì Nhà nước có thể truy xuất, xử lý ra sao. Nếu làm được điều đó, luật sẽ không chỉ giải quyết những vướng mắc của hôm nay mà còn tạo được khung pháp lý bền vững cho một nền xuất bản số trong tương lai”, đại biểu nhấn mạnh.

Chiều cùng ngày, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

Lê Thọ