![]() |
| Tái hiện Lễ Thiết triều Nguyên đán Triều Nguyễn góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa cung đình xưa. Ảnh: Bảo Minh |
Đầu tiên, Đề án đã nhìn thẳng vào thực tiễn sau hơn ba năm triển khai Đề án phát triển dịch vụ trên cơ sở phát huy giá trị di tích Cố đô Huế đến năm 2030 theo Quyết định 1911/QĐ-UBND (ngày 14/8/2023 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế).
Những kết quả đạt được là rất rõ: các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng hơn, không gian trải nghiệm văn hóa từng bước hình thành, doanh thu từ các hoạt động dịch vụ giai đoạn 2023 - 2025 đạt hơn 94 tỷ đồng, tạo thêm việc làm và đóng góp đáng kể cho ngân sách. Nhưng chính Đề án cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế như sản phẩm còn thiếu chiều sâu, chưa hình thành hệ sinh thái dịch vụ đồng bộ, còn ít nhà đầu tư lớn, nhiều vướng mắc pháp lý và đặc biệt là chưa khai thác hết tiềm năng vô cùng to lớn của di sản Huế.
Sự nhìn nhận khách quan ấy tạo nên giá trị của Đề án lần này.
Điểm mới quan trọng nhất là Đề án đã thay đổi cách nhìn về di sản. Nếu trước đây, khai thác di sản chủ yếu được hiểu là phát triển các hoạt động dịch vụ thì nay phạm vi đã được mở rộng thành khai thác và phát huy giá trị, nghĩa là mỗi hoạt động kinh tế đều phải góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, giáo dục cộng đồng, quảng bá hình ảnh Huế và tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn. Đây cũng chính là tinh thần của Luật Di sản văn hóa năm 2024 và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Có thể nói, đây là bước chuyển từ tư duy “bảo tồn để giữ gìn” sang “bảo tồn để phát triển”.
Đề án cũng cho thấy một tầm nhìn khá toàn diện khi đặt Quần thể di tích Cố đô Huế vào trung tâm của hệ sinh thái kinh tế di sản. Không chỉ có tham quan, mà còn có giáo dục di sản, công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm, chuyển đổi số, trải nghiệm sáng tạo, trình diễn nghệ thuật, làng nghề truyền thống, thời trang di sản, sản phẩm lưu niệm, công nghệ thực tế ảo, audio guide đa ngôn ngữ, bản đồ số, 3D mapping, hologram... Tất cả đều hướng tới mục tiêu làm cho di sản trở thành một không gian sống động, hấp dẫn hơn đối với du khách trong nước và quốc tế.
Đặc biệt, việc phân chia rõ các không gian chức năng như không gian nghi lễ - tâm linh, không gian giáo dục di sản, không gian dịch vụ, không gian sinh thái và không gian kinh tế đêm cho thấy tư duy quy hoạch đã tiến thêm một bước, tránh tình trạng phát triển tự phát hoặc thương mại hóa tràn lan.
![]() |
| Du khách khám phá điện Phụng Tiên qua hệ thống phục dựng ảo |
Tuy nhiên, càng nhiều cơ hội thì càng cần nhiều sự tỉnh táo.
Di sản Huế khác với nhiều điểm đến du lịch khác ở chỗ đây là Di sản Văn hóa Thế giới với những giá trị nổi bật toàn cầu đã được UNESCO ghi nhận. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi hoạt động khai thác đều phải đặt sau yêu cầu bảo tồn.
Đề án đã nhấn mạnh nguyên tắc hạn chế tối đa xây dựng công trình kiên cố trong khu vực bảo vệ I, ưu tiên hạ tầng nhẹ, kiểm soát sức chứa, đánh giá tác động di sản trước các dự án lớn và tránh thương mại hóa đại trà. Những nguyên tắc này rất đúng và cần được thực hiện nghiêm túc.
Bởi trên thực tế, ranh giới giữa “phát huy giá trị” và “thương mại hóa di sản” đôi khi rất mong manh.
Một vấn đề khác cũng cần đặc biệt lưu ý là câu chuyện pháp lý.
Đề án đã chỉ ra rằng, các quy định về tài sản công, đầu tư, xây dựng, di sản văn hóa... đang tạo ra nhiều khó khăn trong thu hút doanh nghiệp và triển khai các dự án quy mô lớn. Đây là thực tế không chỉ của Huế mà của nhiều di sản trên thế giới.
Điều cần làm trong thời gian tới không phải là nới lỏng các quy định bảo tồn mà là xây dựng cơ chế quản trị minh bạch hơn, quy trình rõ ràng hơn và lựa chọn những nhà đầu tư thật sự am hiểu văn hóa. Di sản không cần quá nhiều nhà đầu tư, nhưng cần những nhà đầu tư biết tôn trọng di sản.
Cùng với đó là vấn đề nguồn nhân lực.
Khai thác kinh tế di sản trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là bán vé hay tổ chức dịch vụ. Nó đòi hỏi đội ngũ có kiến thức về bảo tồn, quản trị văn hóa, marketing, công nghệ số, truyền thông quốc tế, thiết kế trải nghiệm và vận hành sản phẩm sáng tạo. Nếu không đầu tư cho con người thì rất khó tạo ra những sản phẩm có thương hiệu đủ sức cạnh tranh với các đô thị di sản hàng đầu trong khu vực.
Một điểm rất đáng mừng là Đề án đã dành sự quan tâm đúng mức đến cộng đồng.
Di sản không thể chỉ thuộc về cơ quan quản lý. Di sản phải tạo sinh kế cho nghệ nhân, làng nghề, người dân địa phương và doanh nghiệp sáng tạo. Khi người dân được hưởng lợi từ di sản thì họ sẽ trở thành những người bảo vệ di sản tích cực nhất. Đây cũng là kinh nghiệm thành công của nhiều đô thị di sản trên thế giới.
Từ góc độ đó, mục tiêu doanh thu từ hoạt động khai thác tài sản công đạt khoảng 1.500 - 2.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2026 - 2035, đồng thời đạt mức 40 - 50% tổng thu phí tham quan vào năm 2035 là mục tiêu tham vọng nhưng hoàn toàn có ý nghĩa nếu được xây dựng trên nền tảng chất lượng sản phẩm, quản trị hiện đại và phát triển bền vững.
Điều quan trọng hơn là Đề án đã xác lập một triết lý phát triển đúng đắn: Kinh tế không phải là mục tiêu cuối cùng của di sản; kinh tế chỉ là phương tiện để di sản được bảo tồn tốt hơn, được kể những câu chuyện hay hơn và được truyền lại nguyên vẹn cho các thế hệ mai sau.
Huế đang đứng trước một cơ hội lớn khi có đầy đủ hành lang pháp lý mới, có vị thế của thành phố trực thuộc Trung ương, có tám danh hiệu UNESCO và ngày càng được thế giới biết đến như một đô thị di sản đặc sắc. Nếu triển khai tốt, Đề án “Khai thác, phát huy giá trị Quần thể di tích Cố đô Huế đến năm 2035” không chỉ gia tăng nguồn lực cho bảo tồn mà còn có thể trở thành hình mẫu của châu Á về phát triển kinh tế di sản trên nền tảng văn hóa.

