Ngày 2/9/1955, Bác Hồ cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tới đặt vòng hoa viếng các liệt sĩ tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh 

Từ Sắc lệnh 20/SL đến Ngày 27/7

Với Bác, biết ơn không dừng lại ở tình cảm mà phải được chuyển hóa thành hành động thiết thực, thành trách nhiệm chính trị, trách nhiệm xã hội và bổn phận của mỗi người dân đối với Tổ quốc, với Nhân dân, với những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, giữa muôn vàn khó khăn của chính quyền non trẻ, Người vẫn đặc biệt quan tâm đến thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Điều đó cho thấy trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc chăm lo cho những người đã hy sinh, cống hiến không phải là hoạt động mang tính từ thiện, mà là trách nhiệm của Nhà nước, của toàn xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Chính phủ thể chế hóa tư tưởng đó thành văn bản pháp quy của Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ. Ngày 16/2/1947, Người đã ký Sắc lệnh số 20/SL Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ. Đây được xem là văn bản pháp quy đầu tiên về chế độ, chính sách đối với thương binh, thân nhân liệt sĩ. Qua đó, thể hiện tính nhân văn sâu sắc và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ đối với những người đã không tiếc máu xương vì sự tồn vong của quốc gia, dân tộc.

Tri ân

Hơn nửa thế kỷ sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” vẫn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội gìn giữ, phát huy bằng nhiều chủ trương, chính sách và phong trào thiết thực.

Trong mọi giai đoạn phát triển, Đảng và Nhà nước luôn coi công tác “Đền ơn đáp nghĩa” là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là biểu hiện sinh động của bản chất tốt đẹp của chế độ. Hệ thống chính sách ưu đãi người có công ngày càng được hoàn thiện; hàng triệu căn nhà tình nghĩa được xây dựng, hàng vạn Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng, hàng triệu phần mộ liệt sĩ được chăm sóc chu đáo. Những việc làm ấy không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn góp phần gìn giữ ký ức lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước và trách nhiệm công dân cho các thế hệ hôm nay. Đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối mạch nguồn nhân văn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” càng có ý nghĩa như một nguồn lực tinh thần quan trọng. Một dân tộc biết trân trọng lịch sử sẽ có bản lĩnh để hội nhập mà không hòa tan; biết tri ân quá khứ sẽ có đủ sức mạnh để kiến tạo tương lai.

Là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, Huế có hàng chục nghìn người có công với cách mạng; hàng nghìn Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh và thân nhân liệt sĩ. Trên mảnh đất từng chịu nhiều đau thương bởi chiến tranh, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành nét đẹp giàu tính nhân văn, được cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội chung tay thực hiện.

Công tác thực hiện chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn thành phố Huế đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và sự quan tâm sâu sắc của Đảng bộ, chính quyền thành phố. Cùng với việc xem xét, công nhận người có công với cách mạng, chế độ trợ cấp ưu đãi và nhiều chế độ hỗ trợ khác đối với người và gia đình người có công cũng được triển khai thực hiện có hiệu quả. Các công trình ghi công liệt sĩ được tu bổ, tôn tạo, nâng cấp và chăm sóc chu đáo; công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đang được tích cực triển khai.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, trong những năm qua, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” của thành phố Huế được thực hiện tốt, theo đúng quy định, mang lại hiệu quả to lớn, thiết thực, góp phần thể hiện đạo lý truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Lê Hà